Các nhà khoa học đã hồi sinh động vật tuyệt chủng như thế nào?
Nhưng nhờ sự tiến bộ của khoa học, công nghệ hồi sinh động vật tuyệt chủng đã mang lại cho thế giới những loài động vật xinh đẹp, ngỡ đã biến mất mãi mãi.
Các nhà khoa học bảo tồn sử dụng phương thức chuyển vị và nuôi nhốt (translocation and captive breeding) để thiết lập lại các quần thể động vật đã tuyệt chủng trong tự nhiên - toàn bộ hoặc ở một số khu vực nhất định. Hồi sinh động vật tuyệt chủng có thể là một chiến thắng kép: giúp khôi phục các hệ sinh thái bị suy thoái, cũng như tăng số lượng cá thể động vật. Tuy nhiên, việc tạo ra và đưa một loài sinh vật "đã từng biến mất" ra ngoài tự nhiên là một hành động cân bằng không ổn định.
Linh miêu Á-Âu sống ở Trung Âu vốn tuyệt chủng từ những năm 1800. Loài này bắt đầu được hồi sinh vào năm 1970, tuy nhiên các quần thể thể linh miêu sống khá rải rác trên các châu lục, gây khó khăn cho công cuộc nghiên cứu của những nhà bảo tồn.
Natasha Robinson, nhà sinh thái học tại Đại học Quốc gia Úc, người chuyên nghiên cứu về các loài động vật hoang dã bị đe dọa, cho biết: Việc mang động vật tuyệt chủng trở lại thường mất nhiều năm và liên quan đến nhiều giai đoạn. Robinson cho biết, các nhà bảo tồn phải đánh giá mức độ đe dọa của loài này đối với động vật khác, cũng như với chính nó và vai trò của nó với hệ sinh thái. Ở những nơi có quần thể hoang dã mới biến mất không lâu, các nhà khoa học có nhiều cơ hội thành công hơn khi hồi sinh động vật tuyệt chủng.
“Thời gian đã qua càng ít, môi trường đó càng ít thay đổi” cô nói. "Nhưng bạn vẫn cần phải giải quyết lý do loài này lại tuyệt chủng trong môi trường như vậy, trước khi tiến hành mang chúng trở lại".
Bị săn để lấy thịt, da sống và sừng, loài linh dương Ả Rập đã biến mất khỏi tự nhiên vào những năm 1970 nhưng sau đó đã được tái sinh ở Israel, Oman, Ả Rập Xê Út, Jordan và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.
Hồi sinh động vật tuyệt chủng có tác động tích cực đến cảnh quan, nhưng điều này hiệu quả đến đâu còn phụ thuộc vào loại động vật và mức độ bị tàn phá của môi trường. Robinson cho biết, động vật ăn cỏ có thể tạo ra một sự thay đổi đáng kể và tương đối nhanh. Ví dụ như một loài thú có túi như chuột chù, có thể đào và phân phối lại "nhiên liệu" dễ cháy như lá khô, giúp giảm nguy cơ cháy rừng, tăng độ màu mỡ của đất và cải thiện sự phát triển của cây con.
Bò rừng thảo nguyên - một phần quan trọng của hệ sinh thái nước Anh - đã tuyệt chủng 10,000 năm trước. Vì thế, các nhà khoa học nỗ lực hồi sinh anh em họ hàng của nó - bò rừng châu Âu.
Thú săn mồi sẽ được mang trở lại tự nhiên chậm và cẩn thận hơn. Robinson nói: "Mặc dù chúng có thể hữu ích trong việc quản lý các loài sinh vật gây hại, nhưng các nhà bảo tồn phải đảm bảo chúng không săn lùng quá mức, đe dọa các loài động vật dễ tổn thương khác".
Từ 1995 - 1997, khoảng 40 con sói xám được hồi sinh. Sự vắng mặt đến 70 năm của loài này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự cân bằng sinh thái.
Một nghiên cứu năm 2020 đã nhấn mạnh việc hồi sinh động vật tuyệt chủng là một trong những cách hiệu quả nhất để cứu nguy cho thế giới hoang dã. Nếu không có những dự án này, các loài như ngựa Przewalski và Guam gần như sẽ tuyệt chủng trong tự nhiên. Nghiên cứu ước tính rằng hành động bảo tồn từ năm 1993 đến năm 2020 đã cứu được 48 loài chim và động vật có vú khỏi nguy cơ tuyệt chủng. Nếu không có những nỗ lực trên, tốc độ tuyệt chủng sẽ cao hơn 3-4 lần vào giai đoạn đó.
Lược dịch: "These animals went extinct in the wild, Scientists brought them back" (By Rebecca Cairns, CNN)
Đọc thêm:



