Công tử Bạc Liêu có phải người giàu nhất Việt Nam xưa?

Cụm từ Công tử Bạc Liêu được dùng để chỉ con của những gia đình phú hộ, đại địa chủ sống ở tỉnh Bạc Liêu xưa. Do việc phân chia lại ruộng đất trong thời Pháp thuộc, đã làm nảy sinh rất nhiều đại điền chủ ở Bạc Liêu.

Theo phong trào khi ấy, các đại đại gia miệt vườn khắp Nam Kỳ thường cho con lên Sài Gòn học ở các trường Pháp, thậm chí du học bên Pháp. Tuy nhiên, hầu hết các vị công tử giàu có này, bị ảnh hưởng bởi sự phồn hoa đô hội, sẵn tiền, nên thường đi vào con đường ăn chơi để thể hiện mình.

Lúc đầu cụm Công tử Bạc Liêu để chỉ một nhóm công tử, nhưng nổi bật về độ chịu chơi nhất trong số họ là Hắc công tử Trần Trinh Huy hay Ba Huy. Không một ai có thể đọ sức với Ba Huy về sự phóng trong tiêu xài, nên thành ngữ Công tử Bạc Liêu, về sau chỉ dùng để chỉ riêng Ba Huy, không ai có thể tranh chấp được.

Empty

Vậy Ba Huy có giàu nhất nước hay nhất Nam Kỳ?

Câu trả lời là không, vì tài sản của Ba Huy được hưởng từ cha là ông Trần Trinh Trạch. Mà ông Trần Trinh Trạch có tới ba trai, bốn gái. Hai người con trai khác của ông là Trần Trinh Đinh và Trần Trinh Khương, cũng là tay ăn chơi có số má.

Tài sản của ông Trạch được mô tả như sau: Tại Nam Kỳ thập niên 1930, giới điền chủ lớn chiếm 1.035.000 ha ruộng đất thì riêng hội đồng Trạch đã chiếm 145.000 ha, trong khi toàn bộ 4 triệu nông dân tại Nam Kỳ chỉ có 500.000 ha ruộng đất. Ngoài hai dãy phố lầu ở Bạc Liêu và một dãy phố lầu ở đường La Grandière ở Sài Gòn (sau là đường Gia Long, nay là đường Lý Tự Trọng). Tương truyền, bấy giờ toàn tỉnh Bạc Liêu (gồm bốn quận Vĩnh Lợi, Cà Mau, Vĩnh Châu, Giá Rai) có 13 lô ruộng muối thì 11 lô (hơn 100.000 ha) là tài sản ông Trạch.

Empty

Vậy Trần Trinh Trạch là người giàu nhất? Cũng không luôn.

Để biết ai là người giàu nhất, ta cùng tìm hiểu về cụm từ Tứ đại phú hộ hay An Nam Tứ đại phú. Đây là cụm từ dân gian ở miền Nam Việt Nam được đặt ra vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX để chỉ bốn người giàu nhất Sài Gòn, cũng như nhất miền Nam Kỳ lục tỉnh và cả Đông Dương thời bấy giờ.

Để dễ nhớ, dân gian có câu Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Định. Đây là câu được nhiều người biết nhất. Tuy nhiên, về vị trí thứ tư, có một số dị bản đề cập đến nhà tư sản khác như Tứ Trạch, Tứ Hỏa hoặc Tứ Bưởi. Vậy là ông Trần Trinh Trạch chỉ đứng hàng thứ 4, mà còn đứng cùng nhiều người.

Sơ lược về 7 người này như sau:

“Nhất Sỹ” tức Huyện Sỹ, tên thật là Lê Phát Đạt (1841-1900), còn có tên gọi là Sỹ, được Pháp phong Huyện hàm, nên còn được gọi là Huyện Sỹ. Ông dẫn đầu về độ giàu có ở Việt Nam thời kỳ này, ông là ông ngoại của Nam Phương Hoàng hậu.

“Nhì Phương” là Đỗ Hữu Phương (1844-1914), do được Pháp phong Tổng đốc hàm nên còn gọi là Tổng đốc Phương. Ông là một trong những người đề xướng và đã bỏ tiền ra xây Trường Collège de Jeunes filles Indigènes vào năm 1915, tức Trường Nữ Trung học Sài Gòn, mà người dân thường gọi là Trường Áo Tím.

“Tam Xường” là Lý Tường Quan, còn có tên gọi là Xường, do tài sản cự phú nên dân gian còn gọi là Bá hộ Xường, hay Hộ Xường. Ông trở nên giàu có nhờ kinh doanh lương thực dịch vụ, thầu cung cấp vật dụng thức ăn, độc quyền cung cấp thịt cá cho Sài Gòn và các tỉnh lân cận.

“Tứ Định” là Trần Hữu Định, làm giàu bằng nghề mở tiệm cầm đồ, kinh doanh đất đai, xuất nhập vải sợi. Khi ông chết, con cháu không biết giữ của đã tiêu xài và xóa sạch vết tích của nhà cự phú này.

“Tứ Hỏa” tên thật là Hui Bon Hoa (1845-1901) hay Huỳnh Văn Hoa, Jean Baptiste Hui Bon Hoa, dân gian thường gọi là Chú Hỏa. Ông là người Việt gốc Hoa, theo đạo Công giáo. Ông thành lập công ty bất động sản Hui Bon Hoa, có lúc sở hữu trên 20.000 căn nhà ở Sài Gòn, đồng thời xây dựng rất nhiều công trình có giá trị lớn ở vùng Sài Gòn-Gia Định vẫn còn tồn tại đến ngày nay: Bảo tàng Mỹ thuật thành phố, Khách sạn Majestic, Bệnh viện Từ Dũ, Trung tâm Cấp cứu Sài Gòn,... Các công trình này đóng góp một vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ mặt thành phố Sài Gòn. Ông có người con gái không may chết sớm khi đang xuân xanh, để lại trong dân gian những câu chuyện ma quái xuất hiện trong nhà của Hui Bon Hoa. Câu “Con ma nhà họ Hứa” xuất phát từ gia đình này.

“Tứ Trạch” là Trần Trinh Trạch (1872-1942). Ông xuất thân nhà nghèo, do được mướn đi học thay cho con của một điền chủ nhập tịch Pháp, có vốn chữ nghĩa tiếng Pháp, về sau đi làm viên chức cho tòa bố (tòa hành chánh) tỉnh Bạc Liêu. Cũng nhờ vốn kiến thức về luật pháp mà ông giàu lên nhanh chóng nhờ thu mua tài sản điền địa của các địa chủ thất vận. Ông được xem là một trong những đồng sáng lập Ngân hàng Việt Nam - ngân hàng đầu tiên do chính người Việt Nam sáng lập và điều hành, trụ sở đặt tại Sài Gòn (1927). Ông có người con trai thứ ba tên là Trần Trinh Huy, nổi tiếng với danh xưng “Công tử Bạc Liêu”.

“Tứ Bưởi” là Đỗ Thái Bưởi (1874-1932), trong số các đại phú nói trên, ông là người duy nhất sống ở miền Bắc (tỉnh Hà Đông, nay là Hà Nội). Do làm con nuôi trong một người nhà giàu họ Bạch nên ông còn có tên là Bạch Thái Bưởi. Ông nổi danh khi cạnh tranh với người Pháp và người Hoa trong các lĩnh vực vận tải thủy, khai thác mỏ và xuất bản với các công ty Giang Hải Luân thuyền Bạch Thái Bưởi công ty, Công ty in và Xuất bản Bạch Thái Bưởi (sau là Đông Kinh ấn quán). Ông được xem là nhà tư sản dân tộc tiêu biểu của thế kỷ XX

Mộ của ông Lê Phát Đạt

Mộ của ông Lê Phát Đạt

Mộ của vợ ông Lê Phát Đạt

Mộ của vợ ông Lê Phát Đạt