Dịch hạch năm 1664 và dịch Covid-19 có nhiều điểm tương đồng đáng kinh ngạc

Dịch hạch năm 1664 và dịch Covid-19 xuất hiện nhiều điểm tương đồng đáng kinh ngạc sau khi người ta đọc cuốn A Journal of the Plague Year (Ghi chép về năm dịch hạch). Nhân sự kiện này, các chính phủ cần nhìn nhận hậu quả của các cuộc khủng hoảng lâu dài hơn để ngăn chặn những thảm họa tương tự trong tương lai.

Câu chuyện của tác giả Daniel Defoe (1660 - 1731) kể về một người đàn ông và hàng xóm của mình nghe nói rằng bệnh dịch hạch "đã trở lại một lần nữa ở Hà Lan" vào đầu tháng 9/1664 cũng tương tự như người Anh bây giờ. Mặc dù đã được chính phủ khuyến cáo về đại dịch Covid-19 bắt nguồn từ nước ngoài, nhưng trước đó mọi người coi đây là "một vấn đề không đáng lưu tâm".  Phản ứng ban đầu của người Anh vô cùng giống với đại dịch hạch năm 1664

Dịch hạch năm 1664 và dịch Covid-19 đều có số liệu chênh lệch, phản ứng chậm trước đại dịch

Mọi chuyện diễn ra nhanh như lật giở một trang sách. Vào năm dịch hạch, người Anh nhận được tin tức đầu tiên của tờ Bill cho thấy số người chết ở các giáo xứ tại London đã tăng lên. Điều này giống như tin tức nói về số ca tử vong do Covid-19 mà chúng ta vẫn nghe mỗi ngày trong suốt khoảng thời gian vừa qua.

Tuy nhiên, các con số về dịch hạch có vẻ không đáng tin. Con số mà các nhà chức trách đưa ra luôn ở mức thấp: "Tuần tiếp theo, tờ Bill đưa tin số người nhiễm bệnh dịch hạch là 17, trong khi số người được mai táng tại khu vực St Giles là 53, một con số thật đáng sợ!".

Dịch hạch năm 1664 và dịch Covid-19 đều có số liệu chênh lệch, phản ứng chậm trước đại dịch

Dịch hạch năm 1664 và dịch Covid-19 đều có số liệu chênh lệch, phản ứng chậm trước đại dịch

Sau đó, tờ Bill này phát hiện ít nhất hơn 20 người nữa "đã tử vong vì dịch hạch", nhưng lại được liệt kê là "chết vì sốt phát ban hay sốt sài chó, chưa tính đến một số ca tử vong bị che giấu khác".

Có thể thấy, vào năm 1665 cũng như năm 2020, con số tử vong thực sự cho thấy quy mô và tầm ảnh hưởng của đại dịch lớn hơn so với con số chính thức được công bố. Ngoài ra, còn nhiều điểm giống nhau giữa dịch hạch trong quá khứ với Covid-19 hiện nay. Trong sách, tác giả cho rằng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn dịch hạch đã được thực hiện quá muộn:

"Tôi thường nêu lên một giả thuyết rằng mọi người đều lần đầu tiên trải qua tai họa như dịch hạch này, và mọi người đều muốn các biện pháp ngăn chặn và quản lý được đưa ra kịp thời và công khai. Nếu các bước đi đúng đắn được thực hiện, có thể chúng ta đã tránh được việc có quá nhiều người tử vong. Nếu hậu thế cảm thấy những điều này đúng đắn, hãy thận trọng và coi đây là lời cảnh báo".

Đối với hậu thế, thật cay đắng khi phải đọc những dòng này. Ở các trang khác trong cuốn sách, nhiều đoạn văn khiến người đọc ám ảnh khi miêu tả những con phố quen thuộc trở nên vắng vẻ: "Với những ai đi từ đường Shoreditch và Bishopsgate, hoặc qua Old Street và Smithfield, họ sẽ thấy những con phố này vắng tanh, những ngôi nhà, cửa hiệu lặng ngắt, chỉ có một vài người lặng lẽ đi bộ giữa đường".

Giờ đây, chúng ta có thể cảm nhận được tại sao tác giả lại ngạc nhiên khi London yên tĩnh như vậy. Một số người hiện cũng cảm thấy thắc mắc khi bản thân bỗng có thói quen đi ra giữa đường.

Dịch hạch năm 1664 và dịch Covid-19 đều có hiện tượng: Người giàu chạy trốn, người nghèo mắc kẹt

Tác giả Defoecũng tỏ ra thích thú với việc tự cách ly. Dịch Covid-19 chưa khủng khiếp đến mức khiến chúng ta vẽ hình cây thánh giá màu đỏ lên cửa những ngôi nhà có người bị nhiễm bệnh, hay cử lính đến canh gác để ngăn người bệnh đang chết đói bên trong trốn thoát. Nước Anh hiện nay cũng chưa áp dụng biện pháp cách ly 40 ngày.

Tuy nhiên, bất kỳ độc giả nào hiện nay cũng sẽ nhận ra nỗi sợ hãi và sự thương hại của tác giả khi nói về những người mắc bệnh và nghi nhiễm bệnh, đặc biệt là những người đã vô tình lây lan cho người khác:

"Điều tôi muốn nói ở đây là khi đã bị nhiễm bệnh, tức là điều này đã thực sự xảy ra và đi vào cơ thể người bệnh, nhưng nhiều khi họ không nhận ra điều đó: Họ thậm chí không thể cảm nhận được bệnh, vì nhiều người không nhận ra trong vài ngày. Những người này mang theo cái chết trong hơi thở đến từng nơi họ đi, từng người họ gặp; quần áo của họ cũng có mầm bệnh, và tay họ sẽ lây bệnh sang những thứ họ chạm vào".

Dịch hạch năm 1664 và dịch Covid-19 đều có hiện tượng: Người giàu chạy trốn, người nghèo mắc kẹt

Dịch hạch năm 1664 và dịch Covid-19 đều có hiện tượng: Người giàu chạy trốn, người nghèo mắc kẹt

Không có gì đáng ngạc nhiên khi số người tử vong vì dịch hạch ở London vào thời đại của Defoe tăng vọt. Nhưng người dân không chỉ phải đề phòng con người, họ còn phải tránh xa chuột, hay kể cả vật nuôi trong nhà. Defoe viết:

"Thật khủng khiếp khi rất nhiều động vật cũng chết vì bệnh dịch. Tôi nghĩ rằng họ đã đề cập con số 40.000 con chó và số mèo chết là gấp 5 lần chỗ đó".

Người dân London, Anh, vỗ tay cổ vũ các bác sĩ tuyến đầu chống dịch Covid-19. Ảnh: Reuters.Tác giả Defoe cũng viết về những người giàu ra nước ngoài chạy trốn dịch bệnh và reo rắc cái chết theo họ bởi họ có thể vô tình nhiễm bệnh. Trong khi đó, người nghèo có khả năng nhiễm bệnh cao hơn. Ông miêu tả "những tên lang băm và người bán thuốc rong" rêu rao các phương thuốc giả, còn người nghèo "thậm chí đã tự đầu độc mình vì nỗi sợ bị nhiễm dịch bệnh".

Sự tương đồng giữa dịch hạch ở thời đại của Defoe với Covid-19 hiện nay là rất rõ ràng, dù sự kiện được đề cập đến trong sách là từ 355 năm trước, và cuốn A Journal of the Plague Year được xuất bản năm 1722. Nhưng dù vậy, ít nhất vẫn có niềm hy vọng le lói. Người đọc có thể cảm thấy như tác giả Defoe đang viết về thời đại hiện tại, nhưng đây vẫn là cuốn sách viết ở thì quá khứ. "London từng trải qua một nạn dịch hạch chết người...", Defoe viết ở cuối sách. "Và sớm thôi, dịch Covid-19 hiện nay cũng sẽ lùi vào quá khứ", Jordison, vào năm 2020, cũng tỏ ra lạc quan.

Bài học cho thế giới trước tự tương đồng của các đại dịch

1) Bài học về trách nhiệm

Ngoài dịch hạch năm 1664 và dịch Covid-19 đang diễn ra hiện nay, cũng từng có một số mối đe dọa sức khỏe toàn cầu khác trong vòng 2 thập niên vừa qua. Dịch SARS năm 2003, Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) năm 2012 và Ebola trong giai đoạn 2014 - 2016 là 3 ví dụ về sự bùng phát dịch bệnh đòi hỏi phải có phản ứng đa phương xuyên suốt. Mỗi dịch bệnh trên có đặc điểm riêng của nó: SARS bùng lên ở Trung Quốc, MERS ở Ả Rập Xê Út và Ebola ở Tây Phi. Thế nhưng bài học từ các dịch bệnh trên lại đều tương tự nhau. Dịch bệnh và sự xuất hiện của các căn bệnh mới rất có thể là hệ quả của sự gia tăng dân số, đô thị hóa, phá rừng và quá trình sản xuất cũng như phân phối tập trung vào nhiều loài vật khác nhau. Và sự mở rộng của chuỗi cung ứng toàn cầu cũng như thương mại quốc tế, chưa kể đến sự tăng trưởng trong vận tải hàng không quốc tế, cho phép các bệnh truyền nhiễm lây lan khắp thế giới nhanh hơn bao giờ hết.

Dịch bệnh và sự xuất hiện của các căn bệnh mới rất có thể là hệ quả của sự gia tăng dân số, đô thị hóa, phá rừng và quá trình sản xuất cũng như phân phối tập trung vào nhiều loài vật khác nhau.

Dịch bệnh và sự xuất hiện của các căn bệnh mới rất có thể là hệ quả của sự gia tăng dân số, đô thị hóa, phá rừng và quá trình sản xuất cũng như phân phối tập trung vào nhiều loài vật khác nhau.

Chỉ tính riêng trong thập niên qua, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã phải tuyên bố tình trạng y tế khẩn cấp không dưới 6 lần. Rõ ràng chúng ta đã không thực hiện các bước cần thiết để ứng phó các đợt bùng phát dịch bệnh mới với những hành động nhanh chóng, quyết liệt có thể ngăn chặn vi rút Corona rơi vào vòng xoáy vượt tầm kiểm soát như hiện nay.

Đáng nhớ vào thời kỳ SARS (cũng do một vi rút Corona gây ra) khởi phát tại miền nam Trung Quốc vào cuối năm 2002, dịch bệnh này đã bị che giấu suốt hơn một tháng trước khi giới chức Trung Quốc nhận thức được sự nghiêm trọng của nó. Tương tự như vậy, những ngày đầu khi Covid-19 khởi phát, cảnh sát thành phố Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc) cũng đã “bịt miệng” các chuyên gia y tế vốn cố gắng đánh động, và các cuộc tụ tập lớn trong cộng đồng vẫn được cho phép ngay cả khi nguy cơ bùng phát dịch đã trở nên rõ ràng.

Theo một nghiên cứu gần đây, nếu giới chức Trung Quốc công khai thừa nhận mối đe dọa và phản ứng đúng cách chỉ 3 tuần trước đó, sự lây lan của Covid-19 có thể đã giảm đi tới 95%. Thế nhưng, chính sự thờ ơ, tắc trách ngay vào thời điểm quan trọng ấy, đã khiến toàn thế giới hiện nay phải trả một cái giá quá lớn.

2) Cần một cơ chế toàn cầu

Mặc dù WHO đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống lại các mối đe dọa đối với y tế toàn cầu suốt những năm qua nhưng cũng chính tổ chức này bị chỉ trích vì phản ứng chậm chạp và quan liêu. Trên thực tế, trong cuộc khủng hoảng Ebola, chính Mỹ chứ không phải WHO giúp ngăn chặn căn bệnh này trở thành thảm họa rộng lớn hơn.

Trong mọi trường hợp, ngay cả khi phản ứng của WHO lần này tốt hơn thì rõ ràng chúng ta vẫn cần một cơ chế toàn cầu mạnh mẽ hơn để ứng phó với mối đe dọa của các đại dịch. Việc vấp ngã từ cuộc khủng hoảng này tới cuộc khủng hoảng khác không đơn giản là một lựa chọn. Covid-19 là đại dịch kinh khủng nhất kể từ khi dịch cúm Tây Ban Nha bùng phát vào năm 1918. Vì vậy, không có lý do gì để tin rằng cái tiếp theo sẽ không tệ hơn nữa.

Một thể chế toàn cầu mới cần có đủ thẩm quyền và phương tiện để can thiệp khi cần thiết nhằm ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh trong phạm vi quyền hạn của mình. Đạt được thỏa thuận về một cơ chế như thế sẽ không dễ về mặt chính trị, nhưng nó rất cần thiết để ngăn chặn những tranh cãi mang tính ngoại giao nhỏ gây cản trở nỗ lực ứng phó đại dịch toàn cầu.

Trong mọi trường hợp, ngay cả khi phản ứng của WHO lần này tốt hơn thì rõ ràng chúng ta vẫn cần một cơ chế toàn cầu mạnh mẽ hơn để ứng phó với mối đe dọa của các đại dịch.

Trong mọi trường hợp, ngay cả khi phản ứng của WHO lần này tốt hơn thì rõ ràng chúng ta vẫn cần một cơ chế toàn cầu mạnh mẽ hơn để ứng phó với mối đe dọa của các đại dịch.

Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, ngay cả khi Covid-19 rõ ràng đã là đại dịch, Trung Quốc vẫn không để Đài Loan tham gia vào các cuộc thảo luận toàn cầu về cách đối phó dù vùng lãnh thổ này cũng có dịch (Đài Loan là mấu chốt trong chính sách “một Trung Quốc” của Bắc Kinh, tuy nhiên Bắc Kinh và Đài Bắc có hệ thống y tế riêng rẽ - PV). Mỹ tiếp tục dồn ép Iran bằng các lệnh cấm vận, khiến cho Tehran càng khó khăn trong việc ứng phó dịch bệnh. Câu hỏi đặt ra là điều gì sẽ xảy ra nếu bệnh truyền nhiễm tiếp theo khởi phát ở Đài Loan hay Iran. Nếu có những rào cản trên thì sẽ lại ngăn chặn phản ứng ngay lập tức và chúng ta sẽ quay lại đúng kịch bản đang diễn ra.

Trong khuôn khổ hiện tại, nghĩa vụ báo cáo các mối đe dọa truyền nhiễm tới cơ quan quốc tế như WHO thuộc về chính phủ các quốc gia. Nếu có sự cải cách quan trọng, nghĩa vụ này sẽ được mở rộng cho nhân viên y tế lẫn y tế cộng đồng ở tất cả các cấp, nghĩa là từ các quốc gia đến cá nhân. Việc chấp nhận “trách nhiệm báo cáo” phổ biến sẽ khiến tình trạng che giấu thông tin trở nên khó khăn hơn, giúp việc đưa ra các phản ứng đa phương trở nên đỡ tốn thời gian hơn.

Với việc các nước đóng cửa biên giới để ứng phó với khủng hoảng Covid-19, một số nhà quan sát cho rằng kỷ nguyên toàn cầu hóa dường như đã kết thúc. Tuy nhiên, xu thế gia tăng dân số, đô thị hóa vẫn tiếp tục và vi rút thì không “cầm hộ chiếu và quan sát biên giới các quốc gia”. Chỉ tính riêng trong thập niên qua, các mối đe dọa truyền nhiễm đối với sự ổn định và thịnh vượng toàn cầu đã xuất phát từ Trung Quốc, châu Phi và bán đảo Ả Rập. Điều này cho thấy mối đe dọa tiếp theo có thể bắt nguồn từ bất cứ đâu.Giờ là lúc để thế giới cùng nhau xây dựng một cơ chế cảnh báo sớm cũng như hệ thống ứng phó mới và hiệu quả hơn. Đại dịch có thể tránh được nếu chúng ta bắt tay vào. Không có lý do gì để không làm mọi điều trong khả năng để thế giới ngăn chặn một đại dịch tiếp theo.

XEM THÊM

Bài liên quan