Du lịch Việt Nam cần thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang số hóa

Theo ông Võ Anh Tài, du lịch Việt Nam cần thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang số hóa, chú trọng nhiều hơn đến sức khỏe và vệ sinh, đồng thời làm tăng nhu cầu về trải nghiệm không tiếp xúc và các tùy chọn thanh toán.

Lời giới thiệu: Diễn đàn "Lữ hành Việt Nam 2021 - Giải pháp khôi phục và phát triển" vừa diễn ra nhằm tìm ra những giải pháp khả thi, thiết thực khôi phục hoạt động lữ hành, tạo động lực thúc đẩy sự phục hồi của các dịch vụ du lịch, đưa Du lịch Việt Nam nhanh chóng trở lại vị trí của ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam; góp phần chuyển đổi Du lịch Việt Nam trở thành một ngành kinh tế số, đồng thời hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp lữ hành chuyển đổi kế hoạch kinh doanh năm 2021 theo phương châm “vừa phòng chống dịch, vừa khôi phục và phát triển”.

Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu bài tham luận có tựa đề: "Một số nhận định và đề xuất phục hồi hoạt động du lịch quốc tế Việt Nam khi điều kiện cho phép" của ông Võ Anh Tài, Phó TGĐ Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (SaigonTourist Group), Phó Chủ tịch Hiệp hội Lữ hành Việt Nam.

Ông Võ Anh Tài, Phó TGĐ Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (SaigonTourist Group), Phó Chủ tịch Hiệp hội Lữ hành Việt Nam. (Ảnh: Tuấn Nam).

Ông Võ Anh Tài, Phó TGĐ Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (SaigonTourist Group), Phó Chủ tịch Hiệp hội Lữ hành Việt Nam. (Ảnh: Tuấn Nam).

Ngành du lịch, lữ hành Việt Nam, đặc biệt là hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế, đang trong giai đoạn khó khăn nhất sau 1 năm ảnh hưởng bởi đại dịch covi-19. Từ khi dịch bùng phát trên thế giới, Việt Nam tạm thời ngừng toàn bộ các chuyến bay thương mại quốc tế và ngừng toàn bộ công tác xét, cấp thị thực xuất nhập cảnh cho du khách.

Khó khăn này tiếp tục kéo dài, chưa xác định thời gian kết thúc, khi tình hình đại dịch đang tiếp tục diễn biến gia tốc, phức tạp, tiềm ẩn cao nguy cơ lây nhiễm từ bên ngoài. Các vùng dịch chính hiện nay đều nằm trong số các thị trường du lịch quốc tế trọng điểm của Việt Nam.

Ngành du lịch đóng góp trực tiếp tỉ lệ đáng kể vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP), xuất khẩu dịch vụ và tạo nhiều việc làm tại các nước. Các điểm đến phụ thuộc nhiều vào du lịch, càng dễ bị tổn thương bởi đợt khủng hoảng này.

Các hạn chế đi lại được dỡ bỏ dần, nhu cầu sẽ phục hồi dần tùy theo diễn biến phức tạp của đại dịch. Quá trình phục hồi về du lịch quốc tế sẽ không đồng nhất vì các khu vực khác nhau trên thế giới sẽ kiểm soát tình hình dịch bệnh khác nhau, và một số quốc gia sẽ mở cửa đối với du lịch quốc tế trước những quốc gia khác.

Khi du lịch quốc tế từng bước khởi động lại, các chính phủ đang cân nhắc đưa ra quyết định về những quốc gia nào cho phép du lịch đến và đi, và những quốc gia sẽ có yêu cầu thời gian cách ly bắt buộc. Sự phối hợp trong và giữa các quốc gia là yếu tố quan trọng để giải quyết các yêu cầu kiểm dịch, đồng thời giúp du lịch phục hồi kịp thời. Một số quốc gia trong tình hình kiểm soát tốt dịch bệnh đang tìm kiếm các cơ hội thiết lập “hành lang” hoặc “bong bóng” du lịch để bắt đầu mở cửa cho các quốc gia về hoạt động du lịch quốc tế.

Nhận định và đánh giá của các tổ chức du lịch, tài chính quốc tế về thời gian hồi phục du lịch quốc tế khác nhau đối với các quốc gia, các lĩnh vực du lịch quốc tế nhìn chung là không thể nhanh, dần dần đến cuối năm 2023, sang đến năm 2024... và gần như là ngành kinh tế “bị tác động sớm nhất nhưng hồi phục hoàn toàn chậm nhất” cho đến khi các lệnh cấm đi lại song phương, đa phương giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ được dỡ bỏ, các phương tiện giao thông quốc tế được nối lại hoàn toàn, lòng tin của du khách được phục hồi để an tâm tham gia các chương trình du lịch…

Sự phục hồi hoạt động du lịch quốc tế sẽ phụ thuộc vào sự tiến triển tình hình kiểm soát đại dịch, sự sẵn có, hiệu quả của vắc-xin (hoặc các biện pháp kiểm soát thay thế) và việc dỡ bỏ các hạn chế đi lại, cũng như sự tồn tại và sự sẵn sàng của các doanh nghiệp trong hệ sinh thái du lịch, đáp ứng nhu cầu, tác động đến niềm tin, hành vi của du khách.

Du lịch quốc tế inbound là một ngành kinh tế “xuất khẩu tại chỗ”, tạo nguồn thu ngoại tệ tạo nhiều việc làm, thu hút đầu tư vào hạ tầng du lịch, có số lượng khách với mức chi tiêu cao, lấp đầy công suất dịch vụ du lịch thời gian thấp điểm, thời vụ của thị trường du lịch nội địa cho ngành du lịch, hàng không... Có thể nói, ảnh hưởng hoạt động ngừng trệ trong lĩnh vực du lịch quốc tế đến Việt Nam hiện nay chiếm phần lớn trong thiệt hại 23 tỉ đôla trong năm 2020 của ngành du lịch Việt Nam theo công bố đánh giá mới đây của Tổng cục Du lịch Việt Nam.

Các quốc gia, trong đó có Việt Nam đang không ngừng nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để ngành du lịch hồi phục, chuẩn bị cho giai đoạn phục hồi sau dịch. Hàng loạt giải pháp của Chính phủ, ngành du lịch Việt Nam đã được triển khai thời gian qua, nỗ lực tập trung kích cầu, khai thác du lịch nội địa. Tuy nhiên như toàn ngành du lịch trên thế giới, du lịch Việt Nam chỉ hoàn toàn hồi phục khi du lịch quốc tế hồi phục. Du lịch quốc tế đóng vai trò càng quan trọng đối với các điểm đến, dịch vụ du lịch phụ thuộc nhiều vào du lịch quốc tế như Hà Nội, TP. HCM, Hội An...

Việc mở cửa trở lại đối với du lịch quốc tế tại Việt Nam sẽ có nhiều thách thức hơn, thời gian có thể kéo dài đến khi điều kiện cho phép, đảm bảo ưu tiên hàng đầu về tình hình kiểm soát dịch bệnh, an toàn sức khỏe cộng đồng trong nước.

Vậy chúng ta cần chuẩn bị gì, làm gì, để cùng với du lịch nội địa, hoạt động du lịch quốc tế sẵn sàng “bật dậy” như 1 chiếc lò xo nén lại lâu ngày, tận dụng mọi cơ hội “biến nguy thành cơ”, hồi phục hiệu quả nhất, trong thời gian sớm nhất ?

- An toàn trong dịch bệnh là lợi thế khác biệt nhất của Việt Nam và du lịch Việt Nam hiện nay và sau đại dịch. Toàn ngành du lịch Việt Nam tập trung cùng cả nước thực hiện mục tiêu kép: Ưu tiên phòng chống dịch đến khi Việt Nam tuyên bố là quốc gia kiểm soát dịch tốt, không có ca nhiễm cộng đồng, không còn dịch bệnh để dỡ bỏ hoàn toàn các biện pháp, khuyến cáo hạn chế, cấm du lịch quốc tế đối với Việt Nam. Từ đó, tạo nên cơ hội để phục hồi toàn bộ ngành du lịch VN.

- Tăng cường công tác nghiên cứu, theo dõi, dự báo: mỗi thị trường du lịch quốc tế sẽ hồi phục khác nhau tùy theo tình hình kiểm soát dịch bệnh hiện vẫn còn đang diễn biến phức tạp.

- Chuẩn bị sẳn sàng phục hồi ngay chính sách miễn thị thực nhập cảnh đơn phương cho 22 quốc gia trước đây, (đã bị tạm ngừng từ tháng 3/2020) gồm 9 nước ASEAN, 2 nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc), 4 nước Bắc Âu, 5 nước Tây Âu, Nga, Belarus trên cơ sở các quốc gia này đảm bảo an toàn về dịch bệnh, giao thông quốc tế được phục hồi.

- Nghiên cứu, sửa đổi các điều kiện để hủy đặt chỗ tour du lịch quốc tế và trong nước. Như tại Pháp, cho phép thay thế tiền hoàn lại bằng hình thức một voucher hay tương tự có giá trị tương đương cho một dịch vụ trong tương lai; khách hàng có thể yêu cầu hoàn tiền sau 18 tháng đối với các voucher chưa sử dụng. Giảm áp lực tranh chấp tài chính, duy trì nhu cầu du lịch giữa khách hàng và doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch.

- Tích cực duy trì hình ảnh, thương hiệu du lịch Việt Nam “An toàn & Hấp dẫn” thông qua các hoạt động xúc tiến, quảng bá ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, theo hình thức online tại các hội chợ du lịch quốc tế online hiện nay như ITB Asia 2020...

- Xây dựng cơ chế phối hợp liên quốc gia trong khu vực và quốc tế trong lĩnh vực du lịch, ngoại giao, giao thông quốc tế (đường hàng không, đường biển, đường bộ...). Các chính sách linh hoạt, kích hoạt nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả, có tính đến tác động đến ngành du lịch là cần thiết để hỗ trợ phục hồi du lịch trong một môi trường và “điều kiện bình thường mới”. Cần thiết tăng cường cơ chế hợp tác quốc tế đa phương, vì trong hoạt động du lịch quốc tế, các hành động của một chính phủ thực hiện có ý nghĩa, tác động đối với du khách và doanh nghiệp ở các quốc gia khác, và đối với hệ thống du lịch toàn cầu.

- Mô hình du lịch Việt Nam bền vững hơn, linh hoạt hơn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp. Sẵn sàng thích ứng, có cơ chế on-off chuyển đổi linh hoạt, hiệu quả, giữa các hoạt động du lịch nội địa và quốc tế nhằm kiểm soát, hạn chế tác động ảnh hưởng và quản trị khủng hoảng hiệu quả hơn. Thúc đẩy các mô hình kinh doanh mới, áp dụng số hóa và tăng cường hợp tác liên kết.

- Sẵn sàng các chiến dịch, chương trình, sản phẩm kích cầu du lịch quốc tế cụ thể theo cấp quốc gia và doanh nghiệp theo từng thị trường, đối tượng khách hàng, điều chỉnh thay đổi theo nhu cầu, hành vi, thị hiếu, mức độ quan tâm với các giải pháp an toàn theo các tiêu chí cụ thể, tuân thủ các yêu cầu và tiêu chuẩn quốc tế được chấp nhận theo hướng du lịch an toàn, du lịch không gian xanh…

- Thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang số hóa, chú trọng nhiều hơn đến sức khỏe và vệ sinh, đồng thời làm tăng nhu cầu về trải nghiệm không tiếp xúc và các tùy chọn thanh toán. Có kế hoạch tăng cường sử dụng các sáng kiến ứng dụng kỹ thuật số, chuyển sang hướng du lịch “thông minh”, “cá nhân hóa” và “không tiếp xúc”. “Du lịch không tiếp xúc” là một xu hướng du lịch mới tránh những nơi đông người và các hoạt động trong nhà, đồng thời ưu tiên các điểm tham quan ngoài trời có nhiều không gian. Dịch vụ Dự báo du lịch là một giải pháp du lịch thông minh với dữ liệu lớn, cung cấp hỗ trợ lập kế hoạch du lịch, bao gồm thông tin du lịch hữu ích về điểm đến địa phương, như lượng khách theo thời gian thực, phương tiện đi lại và tỷ lệ đặt chỗ ở, thông tin thời tiết, v.v. Đối với những người không muốn tham quan với hướng dẫn viên, dịch vụ thuyết minh kỹ thuật số thay thế hướng dẫn viên du lịch trực tiếp. Đề xuất có các chính sách hỗ trợ các giải pháp chuyển đổi số trong lĩnh vực du lịch với chi phí thấp hoặc miễn phí cho các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ.

- Cần thiết xem xét chính sách quy định bắt buộc bảo hiểm du lịch y tế có các quyền lợi bảo hiểm covid-19 đối với tất cả du khách quốc tế Inbound và Outbound của Việt Nam khi có điều kiện và được phép hoạt động trở lại, nhằm đảm bào quyền lợi, an toàn cho cả du khách, doanh nghiệp du lịch, chính quyền trong tình huống phải hủy, hoãn chuyến du lịch, kiểm tra – điều trị liên quan yếu tố phát sinh dịch bệnh Covid-19 đ/v du khách, tại điểm du lịch đi/đến trước, trong và sau chuyến đi.

- Từ đó, đề xuất Chính phủ, Bộ Tài chính cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam nghiên cứu, bán các sản phẩm bảo hiểm du lịch về dịch bệnh covid-19 như các trường hợp dịch bệnh khác theo quy định, pháp luật. Các chương trình bảo hiểm y tế du lịch liên quan covid-19 đã có tại 1 số quốc gia, có thể giúp chi trả chi phí liên quan đến các tình huống: nhập viện do covid-19, điều trị và chăm sóc y tế, kiểm tra và cung cấp dịch vụ y tế, sơ tán y tế và hồi hương... Bảo hiểm chuyến đi có thể giúp du khách bù đắp chi phí nếu chuyến đi bị ảnh hưởng bởi covid-19.

- Cuối cùng và không thể thiếu đó là các chính sách, giải pháp hỗ trợ thiết yếu về tài chính nhằm duy trì hoạt động, tồn tại của doanh nghiệp, nguồn nhân lực ngành du lịch để có thể hồi phục hoàn toàn hoạt động du lịch và du lịch quốc tế khi điều kiện cho phép. Một số quốc gia xác định du lịch là ngành ưu tiên hỗ trợ ngay từ đầu cuộc khủng hoảng, đặc biệt hoạt động du lịch quốc tế.

Trên đây là một số ý kiến trình bày về nhận định và đề xuất liên quan hoạt động du lịch quốc tế tại Việt Nam, trong và phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch, hướng tới một mô hình du lịch, đặc biệt đối với du lịch quốc tế bền vững và linh hoạt hơn trong tương lai

Trân trọng cám ơn.

Bài liên quan