Gravity: Cuộc chiến giành giật sự sống mạnh mẽ tới kinh ngạc

Gravity không đơn thuần là một bộ phim khoa học viễn tưởng về một người phụ nữ gặp tai nạn bên ngoài vũ trụ tìm cách trở về Trái Đất mà đó còn là câu chuyện về cuộc chiến nội tâm con người khi đứng trước chướng ngại một mình, họ trôi nổi, cô độc, không nơi bấu víu.

Alfonso Cuarón là đạo diễn người Mexico nổi tiếng với những tác phẩm được đánh giá cao như Children of man, Gravity hay gần đây nhất là Roma (2018). Từng hai lần nhận giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất với Roma và Gravity. Alfonso Cuarón đã có niềm đam mê với vũ trụ khi còn là một cậu bé, nhưng điều tốt nhất ông có thể làm lại là phim ảnh. Bộ phim Gravity được ông tạo ra như thể đang thách thức đam mê thám hiểm vũ trụ của bất kỳ một cô, cậu bé nào, bởi bên cạnh việc tạo ra những khung hình đẹp đẽ thì ông còn xây dựng những hiểm nguy khủng khiếp mà công việc đầy khó khăn này có thể đem lại.

“Sự sống trong không gian là điều bất khả thi”, lời đề tựa đầu tiên của bộ phim Gravity chính là lỗ đen gây tò mò đầu tiên, chuẩn bị hút khán giả trôi tuột vào khoảng không vũ trụ sâu thẳm và đầy nguy hiểm suốt 90 phút đồng hồ. Vượt lên trên tất cả sự đáng sợ ấy, bộ phim đầy thông minh này đem tới những trải nghiệm thị giác hùng vỹ không thể nào quên, một câu chuyện giành giật sự sống mạnh mẽ tới kinh ngạc và một thiên hùng ca phản ánh ý nghĩa cuộc sống trong nội tâm sâu thẳm mỗi con người.

Bị quy chụp là một phim khoa học viễn tưởng nhưng Gravity tiếp cận không gian theo hướng khoa học chứ không có bất kỳ yếu tố viễn tưởng nào. Không có nhiều bộ phim mô tả vũ trụ theo phong cách đầy hiện thực như thế. Ngoài Alien (1973) và 2001: A Space Odyssey (1968), Gravity mới có thể coi là bộ phim tiếp theo thách thức được sự bất khả thi trong việc đem tới trải nghiệm đáng tin cậy đến độ kinh hoàng về cuộc sống ngoài không gian.

Ảnh: Internet.

Ảnh: Internet.

Chuyện phim kể về nữ Tiến sĩ Ryan Stone – người đang thực hiện nhiệm vụ không gian đầu tiên của mình. Trong một lần sửa chữa và nâng cấp phần cứng cho kính viễn vọng Hubble bên ngoài không gian, cô cùng đồng nghiệp bị đám mây những mảnh vỡ tạo ra do một vệ tinh bị trúng tên lửa của Nga tạo thành. Cứ mỗi 90 phút trường mảnh vỡ sẽ hoàn thành quỹ đạo và quay lại gây nguy hiểm cho Ryan và những vệ tinh gần đó. Khi cuộc chiến giành lại sự sống trong tình trạng không trọng lực gần như hoàn toàn cô độc của Ryan diễn ra cũng đồng thời là khi người xem được khám phá chính nội tâm đầy đau khổ của cô. Và những tranh đấu đang diễn ra bên trong dường như cũng tàn khốc như chính những gì mà Ryan phải gánh chịu trong không gian vũ trụ.

Ở độ cao 600 km so với bề mặt trái đất, nhiệt độ giao động trong khoảng từ 125 đến -100 độ C, không có vật chất nào truyền âm thanh, không có áp suất khí quyển, không có khí Oxy, không có sự sống nào có thể tồn tại trong không gian vũ trụ. Đó là cách mà Cuarón mô tả bối cảnh mà nhân vật chính đang sống trong. Xa rời với sự sống và đồng loại, khắc nghiệt, lơ lửng, cô độc, nguy hiểm và không một ai lắng nghe.

Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc của phim Gravity

Tim Webber – người phụ trách hầu hết hiệu ứng hình ảnh của bộ phim tuyên bố rằng 80% bộ phim Gravity được tạo ra bằng CGI, so với Avatar của James Cameron (2009) là 60% CGI. Tất nhiên điều đó không có nghĩa rằng phần trăm sử dụng công nghệ CGI càng cao thì bộ phim càng chất lượng. Thông điệp thực sự ẩn chứa sau những hình ảnh đẹp như kỳ vọng ấy mới là điều thực sự quan trọng. Alfonso Cuarón là một thiên tài, ông ấy biết được những gì mình đang làm và thứ ngôn ngữ mà bản thân mong muốn.

Ảnh: Internet.

Ảnh: Internet.

Gravity gây sững sờ cho khán giả về công nghệ và kỹ thuật làm phim. 12 phút sống động tới hoàn mỹ đầu tiên được thực hiện hoàn toàn trong một cú máy long shot (kéo dài) chứng tỏ tài năng chỉ đạo, dàn dựng chuyển động hoàn hảo của đạo diễn, khả năng hóa thân tuyệt vời của dàn diễn viên (diễn chủ yếu trước phông xanh) và đặc biệt là công nghệ xử lý đồ hoạ vi tính để chèn kỹ xảo vào sau. Có rất nhiều cú long shot như thế trong phim. Nhằm tạo ra cảnh sắc chân thật nhất cho khán giả, đạo diễn thậm chí còn “cả gan” quay theo điểm nhìn của nhân vật (POV) khi đột nhập vào bên trong chiếc mũ của Ryan để chính khán giả trải nghiệm nỗi cô đơn, sợ hãi khi bị trôi dạt ngoài vũ trụ. Đó là một hành trình thị giác và cảm giác kinh hoàng với công nghệ 3D.

Ảnh: Internet.

Ảnh: Internet.

Bộ phim Gravity là một bức tranh tuyệt đẹp về con người trong mối tương quan với cái rộng lớn, vô tận và nguy hiểm của vũ trụ cùng với đó là cái đẹp đẽ và xa vời của trái đất khi nhìn từ một khoảng cách khác bên ngoài nó. Phải đứng bên ngoài nó con người mới thấy Trái Đất thực sự đẹp đến thế nào và rồi có lẽ họ đã tưởng tượng những điều không có thật về nó. Phải rời xa Trái Đất thì con người mới thấy trân trọng nó thế nào, trân trọng một việc tầm thường nhất đó là chạm chân vào mặt đất.

Âm thanh của sự im lặng

Âm thanh không tồn tại trong không gian, vậy nên khi xem Gravity người xem sẽ dễ dàng nhận thấy những âm thanh xuất hiện là những âm thanh do nhân vật tạo ra bên trong lớp đồ bảo hộ hay bên trong những con tàu vũ trụ, đôi khi hoàn toàn là sự im lặng.

Ảnh: Internet.

Ảnh: Internet.

Chính điều này mang đến độ chân thực đáng kinh ngạc, cùng với cách mà máy quay tiếp cận nhân vật đã giúp người xem đặt mình vào điểm nhìn của nhân vật. Và đôi khi sự im lặng hướng người xem tự nhìn bằng góc nhìn của họ và mang họ tới cuộc chiến không trọng lực của chính mình.

Trên nền âm nhạc đưa đẩy và dàn trải để hòa nhịp với vũ trụ của Steven Price, bộ phim kéo dài 90 phút mà tưởng chừng vô tận như đời người, với đủ nỗi hạnh phúc, tuyệt vọng, khi các nhân vật vui, buồn và chống đỡ với những trở ngại bất ngờ của vũ trụ hiện tại hay bi kịch quá khứ.

Mang ẩn ý về con người và những chướng ngại mà họ gặp phải

Có thể thấy, Gravity hoàn toàn là một ẩn dụ. Đó không đơn thuần là một bộ phim khoa học viễn tưởng về một người phụ nữ gặp tai nạn bên ngoài vũ trụ tìm cách trở về Trái Đất mà đó còn là câu chuyện về cuộc chiến nội tâm con người khi đứng trước chướng ngại một mình, họ trôi nổi, cô độc, không nơi bấu víu.

Không trọng lực ở đây là một trạng thái mà con người không thể tự làm chủ, những mảnh vỡ lao nhanh theo quỹ đạo của nó là những vật cản có tính sát thương mà con người gặp phải, màn solo của Sandra Bullock là biểu hiện cho việc con người đã luôn cô độc trong cuộc chiến nội tâm của chính mình. Nhưng điều đó không có nghĩa là vô vọng.

Ảnh: Internet.

Ảnh: Internet.

Alfonso Cuarón từng nói: “Đối với tôi, những bộ phim mà tôi tạo ra không giống như những đứa trẻ. Chúng giống như vợ cũ của tôi. Chúng đã mang tới cho tôi thật nhiều; tôi cũng đã trao cho chúng thật nhiều; tôi yêu chúng rất nhiều; chúng tôi chia cách và thật ổn khi chúng tôi chia cách.”

Điều này cho chúng ta thấy được rằng Cuarón đã trưởng thành từ việc tạo ra những bộ phim như cách mà con người trưởng thành từ tình yêu cùng sự chia ly. Và trưởng thành là điều sau cùng mà chúng ta sẽ tìm thấy không chỉ trong bộ phim Gravity mà còn ở hầu hết những bộ phim khác mà Cuarón tạo ra.

Trở lại màn ảnh sau sáu năm vắng bóng, Alfonso Cuaron đã đem tới một bộ phim hoàn mỹ và kỳ vỹ, thử thách những nấc thang cao nhất về kỹ thuật làm phim giàu hiện thực trong không gian cùng phần nội dung chứa đựng nhiều chất khơi gợi về bản ngã và ý nghĩa cuộc đời. Gravity vừa đem tới một trải nghiệm hiếm hoi thỏa mãn thị giác, thính giác, lay động cảm xúc sâu thẳm trong tim, vừa mong khán giả tĩnh tâm, gạt lại những ưu tư thường nhật mà thư thái ngồi yên lại trên chiếc ghế trong rạp chiếu và chứng kiến cuộc đấu tranh sinh tồn trong một chiều không gian của trí tưởng tượng – màn ảnh rộng.