GS. Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Văn Huyên: Những chuyện tình cảm động bây giờ mới kể

“Ước mơ của em khi đôi tám xuân xanh là quyết chọn được người tài đức mới trao gửi thân. Nếu không gặp được một nam nhi hào hùng nào đó thì thà ở một mình suốt đời, thế mà em đã được toại nguyện”....

Hơn 400 hiện vật trưng bày tại bảo tàng Nguyễn Văn Huyên, do con cháu ông mở tại thôn Lai Xá, xã Kim Chung (Hoài Đức, Hà Nội) thể hiện dấu ấn cuộc đời vị Bộ trưởng cũng như tổ ấm hạnh phúc của ông. Thành công của ông có hình bóng người vợ Vi Kim Ngọc và câu chuyện tình hạnh phúc. Đằng sau những kỉ vật vô giá của Giáo sư Nguyễn Văn Huyên, luôn thấm đượm hình bóng của người vợ Vi Kim Ngọc tảo tần, hiền hậu mà ông hết mực yêu thương. Chuyện tình ấy đã ghi dấu ấn vào lịch sử và xã hội Việt Nam những năm 1936- 1945, đánh dấu một sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư tưởng hôn nhân thời bấy giờ, từ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” sang hôn nhân xuất phát từ trái tim, dựa trên tình yêu đôi lứa.

Sự chuyển biến trong tư tưởng “những con người thời kì mới”

Gs. Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên sinh ngày 16/11/1908 tại phố Thuốc Bắc, Hà Nội, trong một gia đình có cha là công chức. Là con thứ năm trong số 7 anh em cùng cha cùng mẹ (ông còn hai người anh cùng cha khác mẹ nữa). Năm lên bảy tuổi, mồ côi cha, Nguyễn Văn Huyên sớm nhận ra sự vất vả, gian khó của mẹ. Người phụ nữ góa chồng khi đứa con út mới được 18 ngày tuổi, phải gồng mình lên gánh vác việc gia đình, nuôi 7 người con đẻ và 4 người con riêng của chồng bằng nghề cắt may quần áo. Sau này, chị gái Nguyễn Văn Huyên là Nguyễn Thị Mão đi dạy, được hưởng ngạch lương như người Pháp. Bà đã dùng phần lớn tiền lương để giúp mẹ nuôi các em ăn học thành người. Mãi đến năm 27 tuổi, khi các em đã tự lập được, bà mới đi lấy chồng.

Ông Nguyễn Văn Huyên khi còn nhỏ.

Ông Nguyễn Văn Huyên khi còn nhỏ.

Mặc dù cuộc sống nhiều vất vả, khó khăn chồng chất đè lên đôi vai nặng trĩu của người mẹ, song cụ Phạm Thị Tý (mẹ giáo sư NguyễnVăn Huyên) luôn cố gắng nuôi những đứa con được học hành đến nơi đến chốn. Trong bản tự thuật của mình, ông đã nói về mẹ mình với một sự kính trọng và biết ơn sâu sắc : “Mẹ góa chồng sớm, cần cù khuya sớm làm ăn, dành dụm cho con đi học. Bản thân mẹ hiếu học, ghét mê tín và luôn cầu tiến; ít nói, không cãi cọ với ai bao giờ, nếp sinh hoạt phong kiến thờ chồng dạy con…”.Nhờ sự cố gắng của mẹ và sự giúp đỡ của chị, năm 1925, Nguyễn Văn Huyên và người em là Nguyễn Văn Hưởng theo một chuyến tàu hàng sang Pháp và nhập học ở Trường Montpellie. Năm 20 tuổi ông đỗ Tú Tài. Một năm sau ông đỗ Cử nhân văn chương, năm tiếp theo ông đỗ thêm một bằng Cử nhân Luật.

Ngày 17/2/1934, Nguyễn Văn Huyên trở thành người Việt Nam đầu tiên bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ văn khoa tại Đại học Sorbonne, Paris - một trường đại học lớn và uy tín của Pháp. Luận án chính của ông là “Hát đối của nam nữ thanh niên ở Việt Nam” và luận án phụ “Nhập môn nghiên cứu nhà sàn ở Đông - Nam Á”.

Hai luận án của ông được Hội đồng giám khảo đánh giá là “một sự kiện đáng ghi nhớ” trong lịch sử nhà trường. Chính những ngày học tập tại Pháp, được sống giữa nền văn minh Pháp, học với những người thầy là các nhà bác học uyên thâm và đầy tính nhân bản. Gs Nguyễn Văn Huyên tiếp thu phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại và cả tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái từ cách mạng Pháp, đồng thời thấu rõ sự vất vả, khổ cực của mẹ, của chị, của những người phụ nữ sống trong chế độ đa thê thời kì phong kiến, ông trở thành người đi đầu trong công tác đổi mới tư tưởng, “đổi mới chế độ hôn nhân” lúc bấy giờ.

Cuộc gặp gỡ định mệnh

Năm 1935, ông Huyên du học ở Pháp về, từ chối làm quan, chỉ đi dạy học. Ông trở thành giáo sư dạy Sử - Địa ở trường Trung học Bảo hộ (trường Bưởi). Từ đây ông bắt đầu gặp bà Vi Kim Ngọc và sau này trở thành người vợ luôn sát cánh, nhất mực chung thủy, yêu thương chồng con.

Ông Nguyễn Văn Huyên và vợ Vi Kim Ngọc

Ông Nguyễn Văn Huyên và vợ Vi Kim Ngọc

Bà Vi Kim Ngọc là người con gái tài sắc vẹn toàn. Bà là con gái của ông Vi Văn Định, tổng đốc Thái Bình. Bà nổi tiếng xinh đẹp lại am hiểu cầm, kỳ, thi, họa. Một bài báo năm 1936 ghi lại: Cô Kim Ngọc và cô Kim Phú, hai ngôi sao sáng của phiên chợ Thái Bình không dự thi sắc đẹp. Sinh ra trong một gia đình quý tộc Vi Kim Ngọc sớm nhận ra sự khổ cực của những người phụ nữ trong gia đình, mà điển hình là mẹ ruột của mình.

Không chấp nhận việc “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” cũng là từ đấy. Phần khác bà Vi Kim Ngọc đã sớm tiếp thu những tư tưởng hiện đại của phương Tây, nhất là trong vấn đề hôn nhân. “Luồng gió mới” trong tư tưởng đó đã khiến bà quyết tâm hủy bỏ hôn ước của mình khi được hứa gả cho một người chưa từng biết mặt.

Câu chuyện từ chối hôn nhân do gia đình sắp đặt của bà minh chứng cho một xã hội đang vận động mạnh vào những năm 1930, khi làn gió mới phương Tây đã thấm vào Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực hôn nhân. Ngay cả cha bà Ngọc - một quan tổng đốc cũng đã đồng ý trả lễ hứa hôn trong 3 năm theo truyền thống, để con gái được tự chọn người yêu.

Năm bà 13 tuổi, cụ Vi Văn Định nhận gả con gái cho một người họ Dương Thiệu. Trong ba năm trời, cứ vào ngày tết, nhà gái lại nhận sêu lễ của nhà trai, chờ cho con gái họ đến tuổi lấy chồng. Đến năm16 tuổi, Vi Kim Ngọc biết chuyện, đòi bố trả lại sêu cho người ta, nhất quyết không chịu cảnh “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”.

Gia đình nhỏ của Nguyên cố Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên

Gia đình nhỏ của Nguyên cố Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên

Bà luôn tâm niệm hôn nhân phải dựa trên tình yêu, phải có tình yêu thì mới mong hạnh phúc. Vì thế nên vào ngày 11/11/1975, khi nhớ lại những ngày còn xuân sắc, bà viết: “Năm 1935, lúc em còn là thiếu nữ, nhiều thanh niên mong muốn kết duyên châu trần. Nhưng em thờ ơ, ai cũng từ chối. Em đợi chàng trai có đức có tài, có thủy có chung với em. Em ước có chàng Hoàng Phủ Thiếu Hoa và em sẽ là Mạnh Lệ Quân. Như thế trai tài gái sắc thì mới xứng…”

Hai người gặp nhau qua sự giới thiệu của một người bạn, cũng là trí thức Tây học. Trong cuốn nhật ký của mình, bà Vi Kim Ngọc nhớ lại lần đầu gặp vị hôn phu của mình: “Có anh bạn đưa ảnh cho em xem, có anh bạn ca tụng anh Nguyễn Văn Huyên là tiến sĩ văn khoa,lại có bằng cử nhân luật. Khi đó, anh còn tại đô thành Paris. Em nghe cũng thoảng qua chẳng nghĩ đến. Khi anh từ Paris về nước, bạn anh đưa xuống Thái Bình thăm nhà. Mẹ cha mời dự bữa cơm trưa. Em cùng anh đôi ta biết nhau từ đó…”

Cuộc gặp gỡ định mệnh đó đã đưa hai trái tim của đôi nam thanh nữ tú xích lại gần nhau, bắt đầu hàn gắn hai mảnh yêu thương thành một. Rồi những chuyến đi chơi, những cuộc hẹn hò đầy bất ngờ và hạnh phúc: “Theo cha mẹ lên HN, em gặp anh, anh còn nhớ không? Em đến Vân Loan, cạnh trường Bưởi để gặp anh. Anh làm em bất ngờ, đang ngồi trên ô tô, cùng bạn Nguyễn Mạnh Tường, bỗng bạn xuống xe và đi ngay. Thế là anh và em, đôi ta phóng xe khắp chốn khắp nơi để kéo dài cuộc gặp đi đôi lần đầu tiên” ( Trích nhật kí của bà Vi Kim Ngọc).

Họ kết hôn năm 1936. Người con gái ấy đòi bằng được tự do theo đuổi ước mơ, chọn người tài đức để trao gửi thân. Nếu không gặp được đấng nam nhi hào hùng thì thà ở một mình suốt đời. Thế nhưng, số phận đẩy đưa, bà đã gặp được ý chung nhân, sống cuộc đời hạnh phúc và mãn nguyện với một người chồng tài năng xuất chúng, nhất mực chung thủy, yêu thương, những người con tài giỏi,ngoan hiền.

Ngẫm về cuộc đời và tình yêu của mình, bà không còn điều gì tiếc nuối: “Ước mơ của em khi đôi tám xuân xanh là quyết chọn được người tài đức mới trao gửi thân. Nếu không gặp được một nam nhi hào hùng nào đó thì thà ở một mình suốt đời, thế mà em đã được toại nguyện”....

Giáo sư Nguyễn Văn Huyên, nguyên là Bộ trưởng Giáo dục (1946– 1975). Là người có nhiều đóng góp tích cực cho nền cách mạng và xã hội Việt Nam, cùng với những cống hiến cao quý cho nền giáo dục của nước nhà. Khi ông mất đi, hàng trăm hiện vật về cuộc đời và sự nghiệp của ông đã được con cháu lưu giữ, trưng bày và trở thành bảo tàng nhỏ tại làng Lai Xá, xã Kim Chung, Hoài Đức, Hà Nội.