Loạt startup du lịch đình đám một thời giờ ra sao?
Có startup vốn kinh doanh bết bát, khi đại dịch ập đến càng thêm điêu đứng, nhưng cũng có công ty nhanh chóng chớp cơ hội để “lướt sóng” khủng hoảng.
Đại dịch Covid-19 đã giáng một đòn mạnh lên ngành công nghiệp du lịch toàn cầu với hàng loạt công ty phải đóng cửa, hàng triệu người mất việc. Các startup từng là ngôi sao sáng trên bầu trời du lịch như Airbnb, Oyo, Klook cũng không phải ngoại lệ. Trong số này, có startup đã kinh doanh bết bát trước khi đại dịch ập đến thì nay càng thêm điêu đứng, nhưng cũng có công ty nhanh chóng chớp lấy cơ hội mới để “lướt sóng” khủng hoảng.

Airbnb ra đời vào năm 2008, là ý tưởng nảy ra trong tình cảnh không trả nổi tiền thuê nhà ở San Francisco của hai nhà sáng lập Brian Chesky và Joe Gebbia. Hai chàng trai quyết định cho những người khách lạ ở chung phòng để giảm tiền thuê. Ý tưởng mang tính cách mạng này đã làm thay đổi cả ngành khách sạn, tạo ra một startup khổng lồ với định giá lên tới 35 tỷ USD. Tính tới tháng 3/2020, Airbnb có hơn 150 triệu người dùng trên toàn cầu, hơn 7 triệu bất động sản cho thuê trải khắp 220 quốc gia trên toàn cầu.
Đến nay, startup này đã có 16 vòng gọi vốn, huy động được tổng cộng 5,4 tỷ USD từ các nhà đầu tư như CapitalG, TCV, JP Morgan Chase. Trong đó, vòng gọi vốn gần đây nhất là vào 6/4/2020 với 1 tỷ USD từ hai nhà đầu tư Silver Lake Partners và Sixth Street, theo TechCrunch.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, giới đầu tư bắt đầu nghi ngờ hướng đi và mô hình kinh doanh của Airbnb khi công ty này liên tục báo lỗ với chi phí tăng đều mỗi năm. Năm 2019, Airbnb báo lỗ ròng tới 674 triệu USD, ngay trước khi đại dịch Covid-19 ập đến. Dù doanh thu của công ty này tăng 32% lên 4,8 tỷ USD trong năm ngoái, chi phí hoạt động lại tăng lên tới 5,3 tỷ USD. Trong 2 năm qua, mọi chi phí từ quản lý, phát triển sản phẩm cho đến vận hành của startup chia sẻ phòng nghỉ đều tăng chóng mặt.

Cũng giống những công ty khác trong ngành du lịch, hoạt động kinh doanh của Airbnb đóng băng trong đại dịch Covid-19 với lệnh hạn chế đi lại và đóng cửa biên giới của các chính phủ. Tỷ lệ khách hủy phòng của Airbnb có thời điểm lên đến 96%.
Dự kiến, doanh thu của Airbnb sụt giảm 54% trong năm 2020 xuống còn 2,2 tỷ USD, buộc ban lãnh đạo công ty phải tính tới các biện pháp mạnh tay nhằm cắt giảm chi phí. Dù huy động được 1 tỷ USD trong vòng gọi vốn hồi tháng 4, công ty này phải chịu lãi suất tương đối cao. Theo Business Insider, nếu không tìm thêm được nguồn đầu tư mới, startup này có thể cạn sạch tiền mặt vào năm 2021.

CEO Airbnb Brian Chesky mới đây cho biết sẽ giảm 800 triệu USD chi phí marketing trong năm nay. Ngày 5/5, Airbnb thông báo công ty sẽ giảm gần 1.900 nhân viên. Công ty này hiện có 7.500 lao động.
"Chúng tôi xây dựng Airbnb trong 12 năm, và mất gần hết trong 4-6 tuần", Chesky phát biểu trong một cuộc phỏng vấn với CNBC.
Làn sóng bán tháo bất động sản hoặc ngừng kinh doanh dịch vụ lưu trú của các đối tác cho thuê trên Airbnb cho thấy những rủi ro tiềm ẩn khi dựa hoàn toàn vào những nền tảng công nghệ mới. Trước tình trạng này, Airbnb đã đưa ra một loạt biện pháp hỗ trợ đối tác, trong đó cam kết chi 250 triệu USD hỗ trợ những người chịu tác động bởi Covid-19 do khách thuê hủy yêu cầu đặt phòng và 17 triệu USD cho những đối tác đóng góp doanh thu lớn nhất. Tháng trước, công ty này cũng kêu gọi khách thuê ủng hộ tiền cho chủ nhà bị ảnh hưởng bởi Covid-19 nhưng vấp phải làn sóng chỉ trích dữ dội.

Đại dịch Covid-19 và những biện pháp trên đã phơi bày điểm yếu chí mạng trong mô hình kinh doanh của Airbnb. Tình hình bết bát khiến kế hoạch IPO của Airbnb đang phải “đắp chiếu” vô thời hạn và đặt dấu chấm hỏi về khả năng phục hồi của startup này sau dịch.

Oyo được thành lập vào năm 2013 bởi Ritesh Agarwal - chàng trai bỏ học để khởi nghiệp khi đó mới 19 tuổi với kỳ vọng tạo ra một công ty có thể làm thay đổi ngành dịch vụ khách sạn không chỉ ở Ấn Độ mà còn trên khắp thế giới. Oyo cấp vốn và đào tạo cho các khách sạn tham gia vào mạng lưới với những tiêu chuẩn khắt khe nhằm đảm bảo trải nghiệm cho khách hàng. Ngoài ra, công nghệ khai thác dữ liệu độc quyền của Oyo cũng giúp họ tối đa hóa doanh thu so với cách kinh doanh truyền thống. Đổi lại, Oyo thu 20% doanh thu.
Được mệnh danh là “Uber trong ngành khách sạn”, Oyo nhanh chóng thu hút đầu tư và mở rộng với tốc độ chóng mặt. Hiện Oyo là chuỗi khách sạn lớn nhất tại Ấn Độ và có mặt tại 79 quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn cầu. Startup này cũng trở thành chuỗi khách sạn lớn thứ hai tại Trung Quốc chỉ sau 18 tháng kể từ khi bắt đầu hoạt động vào cuối năm 2017. Tại Đông Nam Á, Oyo có mặt tại hơn 250 thành phố với trên 2.500 khách sạn nhượng quyền và cho thuê trên khắp Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam.
Trải qua 16 vòng gọi vốn, với vòng gần nhất vào ngày 10/12/2019, Oyo đã huy động được 3,2 tỷ USD từ các nhà đầu tư gồm Airbnb, SoftBank, Didi Chuxing, Grab và hiện có định giá 10 tỷ USD, theo TechCrunch.
Tuy nhiên, Oyo cũng vấp phải bài toán kinh doanh lỗ triền miên như nhiều startup đình đám khác. TrướcCovid-19, Oyo đã phải vật lộn với hàng loạt vấn đề, các đối tác khách sạn của công ty tại hai thị trường lớn nhất - Ấn Độ và Trung Quốc - liên tục phàn nàn vì những cam kết không được thực hiện và thanh toán trễ hạn.

Trong khi đó, các nhà đầu tư và giới phân tích nhiều lần chỉ trích chiến lược phát triển quá nóng của công ty khi “đốt” hàng tỷ USD tiền đầu tư, chủ yếu từ Tập đoàn SoftBank (Nhật Bản). Họ cũng bắt đầu tỏ ra nghi ngờ về tính khả thi của mô hình kinh doanh này. Nhiều người cho rằng giá trị của của startup này đã bị thổi phồng và dự báo công ty sẽ trở thành “WeWork tiếp theo”. WeWork cũng là một startup được SoftBank đầu tư với IPO bất thành hồi tháng 9/2019 và hiện đã mất 90% giá trị. Công ty này cũng đối mặt sự giám sát chặt chẽ hơn sau nhiều năm “đốt tiền” của nhà đầu tư.
Với hàng loạt vấn đề tồn tại, đại dịch Covid-19 giáng thêm một đòn mạnh, đẩy Oyo vào cuộc khủng hoảng chưa từng thấy, đe dọa thổi bay phần lớn hoạt động kinh doanh trong tương lai gần và kéo tụt định giá 10 tỷ USD.

Trong một cuộc phỏng vấn với Bloomberg hồi tháng 3, người sáng lập Oyo, Ritesh Agarwal, cho biết startup này sẽ sa thải khoảng 5.000 nhân viên trên toàn cầu theo kế hoạch tái cơ cấu công bố hồi tháng 1. Tổng nhân sự của công ty trên toàn cầu sẽ còn khoảng 25.000 người.
Trong một bài phát biểu hồi tháng 4, CEO 26 tuổi thừa nhận rằng doanh thu của công ty sụt “50 - 60%” và “dòng tiền mặt đang chịu áp lực trầm trọng”. Để ứng phó với đại dịch, Agarwal cho biết công ty sẽ cắt giảm “mọi chi phí có thể”, giảm chi tiêu và từ bỏ các kế hoạch thâu tóm. Tuy nhiên, dịch bệnh Covid-19 có thể đẩy Oyo tới bờ vực thảm họa mà công ty chỉ còn cách ngồi nhìn bất lực.
Ngoài tác động từ nhu cầu lưu trú du lịch thấp do ảnh hưởng của dịch bệnh, Oyo cũng dễ tổn thương hơn trước khủng hoảng so với các chuỗi khách sạn lớn như Marriott International, Indian Hotels… có tiềm lực tài chính ổn định hơn. Trong khi đó, Oyo báo lỗ ròng khoảng 335 triệu USD trên tổng doanh thu 951 triệu USD vào năm tài chính tính tới cuối tháng 3/2019.

Chi phí quá lớn dành cho phát triển công nghệ, đội ngũ nhân viên và thu hút các đối tác khách sạn, khách hàng khiến mô hình của Oyo đang bị lung lay. Covid-19 cũng khiến việc huy động vốn của Oyo gặp nhiều trở ngại và có thể rơi vào khó khăn tài chính nếu tình hình không được cải thiện trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, căng thẳng giữa Ấn Độ và Trung Quốc liên quan tới vấn đề biên giới có thể sẽ khiến hoạt động kinh doanh của Oyo khó phục hồi sau đại dịch bởi làn sóng tẩy chay của người dùng tại hai quốc gia - cũng là hai thị trường lớn nhất của công ty.

Ra đời vào tháng 5/2014 tại Hong Kong, Klook là ứng dụng đặt dịch vụ du lịch trực tuyến dành cho du khách tự túc. Qua nền tảng này, du khách có thể đặt tour du lịch, vé tham quan, vé tàu xe, mua SIM/Wifi,… riêng lẻ theo nhu cầu mà không cần phải đặt trọn gói như tại các công ty lữ hành. Toàn bộ quá trình từ đặt dịch vụ, thanh toán đến xác nhận đều được thực hiện hoàn toàn trên nền tảng trực tuyến. Thông thường, du khách phải trả mức giá cao hơn so với dân địa phương và đây là tình trạng chung của ngành du lịch trên thế giới. Tuy nhiên, với công nghệ của mình, Klook giúp du khách được hưởng dịch vụ bản địa với mức giá địa phương với nhiều lựa chọn, đồng thời tạo điều kiện để các hãng lữ hành quảng bá dịch vụ một cách thuận tiện trên nền tảng có 30 triệu người dùng hàng tháng.
Theo TechCrunch, qua 6 vòng gọi vốn với vòng gần nhất vào ngày 9/4/2019, đến nay startup Hong Kong đã huy động được hơn 532 triệu USD từ các nhà đầu tư Goldman Sachs, Sequoia Capital China và được định giá hơn 1 tỷ USD. Hiện Klook đã có mặt tại 25 quốc gia trên khắp thế giới, cung cấp hơn 100.000 dịch vụ tại hơn 250 điểm đến nổi tiếng. Trong đó, khách du lịch Việt chủ yếu đặt dịch vụ của Klook tại các quốc gia như Thái Lan, Hong Kong, Đài Loan, Trung Quốc và Hàn Quốc, Nhật Bản… Klook đặt tại Hong Kong và có văn phòng tại nhiều nước khác.
Cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi đại dịch Covid-19 với doanh thu giảm tới 90% trong tháng 3 và tháng 4, nhưng cách ứng phó của Klook lại khác biệt so với các startup du lịch đình đám khác.
Lệnh phong tỏa và đóng cửa biên giới trên toàn cầu buộc Klook phải nhanh chóng đưa ra các sản phẩm mới để trụ vững qua đại dịch. Startup Hong Kong đã nhanh chóng chớp lấy cơ hội từ nhu cầu này bằng cách đưa ra sáng triển trải nghiệm tại gia có tên Klook Home.

Với Klook Home, được triển khai tại 14 thị trường của Klook tại châu Âu và châu Á Thái Bình Dương, người dùng có thể chọn gần 200 hoạt động để tham gia tại nhà như nấu ăn, làm thủ công hay các hội thảo trực tuyến.. Những trải nghiệm này được đưa ra dựa trên xu hướng và nhu cầu của khách hàng tại từng thị trường mà Klook đang hoạt động.

Với những người vẫn muốn khám phá thế giới, startup này nhanh chóng bắt tay với các điểm du lịch nổi tiếng trên toàn cầu để xây dựng thực hiện chương trình tham quan trực tuyến. Có chương trình thậm chí thu hút tới 660.000 người xem chỉ trong hai phiên phát sóng trực tiếp (livestream).
Ngoài các trải nghiệm trực tuyến, Klook cũng tìm cách bắt nhịp nhanh với nhu cầu du lịch nội địa tại những quốc gia, vùng lãnh thổ đã nới lỏng hạn chế đi lại và hướng tới phục hồi dần tại thị trường du lịch quốc tế.

Theo dữ liệu tìm kiếm trên Klook tai châu Á Thái Bình Dương và châu Âu, 60% lượng tìm kiếm trong tháng 4 có liên quan tới các trải nghiệm du lịch nội địa, cho thấy người dùng đang tìm những hoạt động tham quan, giải trí gần nhà. Tại Đài Loan và Hong Kong, nơi lệnh hạn chế đi lại đã được nới lỏng, con số này lần lượt là 80% và 70%.
Vào tháng 4, Klook cũng thí điểm triển khai một danh sách các hoạt động bản địa như tour ngoài trời, tour ẩm thực tại Hàn Quốc và Trung Quốc đại lục. Theo đó, lượng đơn đặt dịch vụ lần lượt tại hai quốc gia này tăng lần lượt gấp đôi và gấp 4 lần.
“Dịch Covid-19 đã thay đổi tương lai ngành du lịch và chúng ta phải nhanh chóng chớp lấy những cơ hội mới", Eric Gnock Fah, người đồng sáng lập, giám đốc hoạt động của Klook, nói. “Ngành du lịch toàn cầu sẽ cần thời gian để phục hồi nhưng chúng tôi tự tin sẽ nắm bắt mọi cơ hội, bắt đầu với những trải nghiệm bản địa. Những gì ta làm hiện nay sẽ định hình xu hướng du lịch trong tương lai".
