Mũi Né: Cần đa dạng hoá sản phẩm, hướng tới du lịch MICE, golf và honeymoon

Theo nhóm tác giả, Mũi Né cần nghiên cứu để xây dựng các sản phẩm dịch vụ phù hợp, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, phát triển các dịch vụ cao cấp như du lịch MICE, honeymoon, golf, thuyền buồm, lặn biển ngắm san hô, câu cá trên biển để tăng tính hấp dẫn đối với kỳ nghỉ cho du khách.

Lời giới thiệu: Sau đây chúng tôi xin giới thiệu phần tiếp theo thuộc bài báo: "Phân tích đánh giá những yếu tố tác động đến quyết định chọn điểm đến du lịch Mũi Né, tỉnh Bình Thuận của du khách nội địa" (phần 2) của nhóm tác giả TS. Đinh Kiệm (Nguyên trưởng khoa Quản lý nguồn nhân lực, Trường Đại học Lao động Xã hội TP. HCM); Võ Xuân Nghĩa (Giám đốc Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch tỉnh Bình Thuận).

Nghiên cứu phân tích đánh giá những yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch nội địa. Nghiên cứu thực tiễn tại Mũi Né - Bình Thuận, số lượng du khách tiến hành khảo sát gồm 304 người, bằng phương pháp định tính kết hợp định lượng, kết quả cho thấy có 7 nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn của khách nội địa theo thứ tự quan trọng gồm: Điều kiện du lịch và thư giãn, Động lực du lịch, Ẩm thực và mua sắm, Cơ sở hạ tầng, Môi trường cảnh quan, Thông tin điểm đến, và cuối cùng là Môi trường kinh tế.

Bài liên quan

Kết quả nghiên cứu

Thang đo nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của khách nội địa gồm 44 biến quan sát, trong đó có 8 biến độc lập (nhân tố), sử dụng thang đo dạng Likert 5 mức độ qua tính toán hệ số Cronbach Alpha và phân tích nhân tố EFA, kết quả cho thấy hệ số Cronbach chung toàn mô hình đạt 0.888,  và các hệ số Cronbach của các thang đo thành phần đều đạt độ tin cậy theo yêu cầu (0.71<α <0.848).

Ảnh minh hoạ: Anh Trần/Wiki Travel.

Ảnh minh hoạ: Anh Trần/Wiki Travel.

Chọn lọc biến thỏa mãn với hệ số Cronbach α ta lần lượt loại các biến HT5, HT6, HT7, HT8, HT9,và  LSVH 5, LSVH 6, LSVH 7, ATMS 4 ,TTDL1. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA có 6 nhân tố được rút trích tại điểm Eigenvalue băng 1,012 >1, tổng phương sai trích đạt 62,58% cho biết 6 nhân tố này giải thích được 62,58% biến thiên của bộ dữ liệu. Kết quả kiểm định mối tương quan chung của các biến quan sát với hệ số KMO = 0.808 >0.5, Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê với mức tin cậy là 5% (sig = 0.00<0.05).

Tuy số biến bị loại khá nhiều (12 biến) nhưng trên thực tế nội dung của nó phù hợp với điều kiện và lựa chọn của du khách nội địa mà các nghiên cứu của Cục Thống Kê tỉnh Bình Thuận đã nghiên cứu trước đây (Nghiên cứu mức chi tiêu và sự hài lòng của du khách, 2016).

Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến Mũi Né Bình Thuận của khách du lịch nội địa.

Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến Mũi Né Bình Thuận của khách du lịch nội địa.

Kết quả phân tích hồi quy:

Kiểm định sự phù hợp của mô hình

Kết quả hồi quy.

Kết quả hồi quy.

Kết quả hồi quy cho thấy trong 8 biến độc lập có một biến LSVH (lịch sử văn hóa) bị loại còn 7 biến đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%, tiến hành kiểm định sự phù hợp của mô hình: có tham số P-value của F=0.000

Nguồn: Nhóm tác giả phân tích trên Eviews 11.0.

Nguồn: Nhóm tác giả phân tích trên Eviews 11.0.

Từ Bảng 4, giá trị của các hồi quy chuẩn hóa của các biến cho thấy vị trí quan trọng của các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến thứ tư là: Du lịch và Thư giãn. (RELAX,0.2576), Động lực du lịch (DLDL, 0.1907), Ẩm thực và mua sắm (ATMS,0.1899), Hạ tầng (HT,0.1877), Môi Trường cảnh quan (MTCQ,0.1630), Thông tin điểm đến (TTDD,0.1479), và cuối cùng là Môi trường kinh tế (MTKT,0.1025).

Các kiểm định kỹ thuật mô hình hồi quy:

* Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến: từ Bảng 3 các hệ số VIF đều nhỏ hơn 10 cho ta kết luận trong mô hình không xãy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

* Kiểm định phần dư của  mô hình theo phân phối chuẩn: (Jarque-Bera)

Hình 2: Đồ thị Tần suất phân phối của phần dư mô hình. (Nguồn: Nhóm tác giả phân tích trên Eviews 11.0).

Hình 2: Đồ thị Tần suất phân phối của phần dư mô hình. (Nguồn: Nhóm tác giả phân tích trên Eviews 11.0).

Từ hình 2, ta thấy P-value (Jarque –Bera)= 0.07866 ) >0.05 cho kết luận phần dư  của mô hình tuân theo phân phố chuẩn.

*Kiểm định phần dư của mô hình độc lập (không có tự tương quan): kiểm định Breusch-Godfrey:

(Nguồn: Nhóm tác giả phân tích trên Eviews 11.0).

(Nguồn: Nhóm tác giả phân tích trên Eviews 11.0).

Từ bảng kết quả kiểm định B-G  có P-value = 0.5288>0.05 cho ta kết luận các phần dư của mô hình có tính độc lập (không có tự tương quan).

Kiểm định phần dư không có phương sai thay đổi: (kiểm định White)

(Nguồn: Nhóm tác giả phân tích trên Eviews 11.0)

(Nguồn: Nhóm tác giả phân tích trên Eviews 11.0)

Từ bảng kết quả kiểm định White, ta có P-value = 0.564 >0.05 cho ta kết luận mô hình không xảy ra hiện tượng phương sai phần dư thay đổi.

Kết luận và một số hàm ý và quản trị

Qua kết quả nghiên cứu, đối chiếu với tình hình thực tiễn trong hoạt động quản lý du lịch tại Phan Thiết nói riêng và Bình Thuận nói chung cho thấy, các yếu tố tác động đến quyết định chọn lựa điểm đến du lịch của du khách nội địa là phù hợp với thực tế đang diễn ra.

Các nghiên cứu định tính trước đây cũng ghi nhận du khách thời gian qua chọn điểm đến Mũi Né do ở đây là vùng biển đẹp, cảnh quan đẹp hoang sơ, ẩm thực độc đáo và có chất lượng.

Thông tin về các tour tuyến du lịch ở Mũi Né được quảng bá khá rộng rãi, cơ sở vật chất lưu trú, giao thông ngày càng được đầu tư tương đối hoàn thiện tạo sự hài lòng cho du khách trong và ngoài nước nên điểm đến này được quan tâm lựa chọn.

Những điểm này phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài về các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến của du khách là: Du lịch và Thư giãn, Động lực du lịch, Ẩm thực và mua sắm, Hạ tầng, Môi Trường cảnh quan, Thông tin điểm đến, và cuối cùng là Môi trường kinh tế.

Một số hàm ý quản trị: Căn cứ vào kết quản nghiên cứu nhóm tác giả gợi ý một số hàm ý quản trị như sau:

Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và các bên tham gia cần phải nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu, thị hiếu của du khách trong yếu tố ưu tiên là du lịch thư giãn, do đó cần nghiên cứu để xây dựng các sản phẩm dịch vụ phù hợp, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, phát triển các dịch vụ cao cấp như du lịch MICE, honeymoon, golf, thuyền buồm, lặn biển ngắm san hô, câu cá trên biển để tăng tính hấp dẫn đối với kỳ nghỉ cho du khách.

Chú trọng về hoạt động dịch vụ ẩm thực và mua sắm, cần khuyến khích mọi nguồn lực để phát triển sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao với sự đa dạng độc đáo có sự khác biệt, đặc thù riêng có của vùng Bình Thuận.

Với thế mạnh là khu vực có vùng ngư trường lớn, sản sinh nhiều loại hải sản tươi ngon, hệ thống nhà hàng khách sạn ở nơi đây cần phát huy thế mạnh của những món ăn đã trở thành thương hiệu của địa phương như mực một nắng, lẩu thả…

Các món ăn dân dã truyền thống cũng cần được chú ý nâng tầm trong chế biến và bài trí để đủ tiêu chuẩn phục vụ du khách như món cá nục kho, bánh canh chả cá, bánh căn, gỏi cá mai… để làm phong phú thực đơn phục vụ du khách, góp phần tạo nên sự hài lòng và thỏa mãn cho du khách. Bên cạnh đó kêu gọi đầu tư mở rộng các cửa hàng bán đặc sản địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm của khách phương xa.

Nâng cao chất lượng việc quảng bá cung cấp thông tin du lịch vùng Mũi Né cho du khách.

Cần có chiến lược quảng bá tiếp thị tốt và hiệu quả về các nội dung của điểm đến để du khách nắm được thông tin chính xác, rõ ràng về giá dịch vụ, phương tiện vận chuyển, nơi ăn nghỉ, điều kiện tiếp cận môi trường du lịch… tiếp thị du lịch và quảng bá cần đa dạng về hình thức và liên tục, sử dụng digital marketing để tạo sự lan tỏa nhanh chóng và ít tốn kém chi phí quảng cáo.

Tạo các kênh phân phối online để khách du lịch dễ tiếp cận và tìm hiểu sản phẩm trên các thiết bị di động. Mở rộng việc bán phòng lưu trú và các dịch vụ trên các chuyên trang booking du lịch.

* Tiêu đề bài viết do Vietnam Traveller/Travelmag.vn đặt.

Bài liên quan