Nguồn gốc Tết cổ truyền Việt Nam
Tết Nguyên Đán là ngày lễ cổ truyền lớn và lâu đời nhất nước ta. Đây được coi là một ngày lễ nhộn nhịp nhất của cả dân tộc và cũng là dịp để con cháu quây quần bên ông bà, cha mẹ sau một năm dài đằng đẵng học tập, làm việc xa quê.
Dựa vào truyền thuyết và lịch sử của nước ta, từ thời họ Hồng Bàng dựng nước Văn Lang đến thời Kinh Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân rồi vị thần này kết hôn với Âu Cơ sinh ra Hùng Vương thì từ ngày ấy, người Việt ta đã ăn Tết. Minh chứng rõ nhất cho việc này đó là sự xuất hiện của bánh chưng, bánh giầy nhờ sáng kiến của Lang Liêu – con trai thứ 18 của đời Hùng Vương thứ 6.
Ngày Tết Nguyên Đán ra đời cũng gắn với những đặc trưng của nền nông nghiệp nước nhà - lúa nước. Gạo là sản vật chính nuôi sống con người, trong đó có gạo nếp thơm ngon nhất nên được chọn làm thành các thứ bánh dành cho việc cúng tế tổ tiên trong ngày đầu năm.
Thực ra, cho đến nay, vẫn chưa có thông tin chính xác hay thời gian cụ thể xác định cho việc dân tộc ta ăn Tết từ bao giờ. Nhưng lịch sử Trung Quốc lại viết rằng, từ thế kỷ thứ nhất khi Nhâm Diên và Tích Quang – 2 vị quan nước Tàu sang nước ta thì đã truyền cho dân ta biết làm ruộng và các sinh hoạt văn hóa khác trong đó có cả Tết cổ truyền. Điều đó, hoàn toàn không đúng bởi thực tế đã chứng minh rằng: trước khi có người Trung Hoa sang đô hộ, dân tộc Việt Nam ta đã có sinh hoạt văn hóa nề nếp và đặc sắc.
Ý nghĩa tên gọi Tết Nguyên Đán
Tết Nguyên Đán của Việt Nam, hay còn gọi là Tết cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết cổ truyền… do đây là Tết đầu tiên trong năm, để phân biệt với một số dịp lễ khác như Tết Khai Hàng, Tết Nguyên Tiêu, Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu…
Về mặt chữ thì tên gọi của Tết Nguyên Đán được bắt nguồn từ Trung Quốc. Trong tiếng Hán, “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu còn “đán” có nghĩa là buổi sáng sớm cho nên ghép lại “nguyên đán” tức là buổi sáng khởi đầu của năm mới.
Nhưng cũng có những thuyết cho rằng, văn hóa Việt (thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước) do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã phân chia thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau và ứng với mỗi tiết này đều có một thời khắc “giao thời” trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, chính là Tiết Nguyên đán.
Rồi về sau, do sự phát triển vượt bậc của ngôn ngữ nên chữ “tiết” được Việt hóa thành “Tết” và hình thành nên tên gọi Tết Nguyên đán như ngày nay.
Tuy nhiên, xét về mặt ngữ nghĩa, Tết Nguyên đán Việt Nam không phải là Tết Nguyên đán của Trung Quốc. Bởi Viện ngôn ngữ học Hà Nội đã chứng minh rằng: Tết Nguyên đán của Việt Nam được tính theo chu kỳ quay của mặt trăng (tức là Âm lịch) trong khi Tết Nguyên đán của Trung Quốc lại được tính theo mặt trời (tức là Dương lịch). Cho nên, thực chất Tết của người Việt sẽ gần giống với Xuân Tiết của người Trung Hoa hơn.