Phát triển du lịch cộng đồng của hộ gia đình tại quần đảo Nam Du (P.1)
Ngoài việc nuôi cá, các chủ bè còn kết hợp làm du lịch, với hình thức cho khách tham quan bè nuôi. Nếu ai có nhu cầu muốn cá ăn tại chỗ thì các hộ sẽ chế biến phục vụ để du khách có thể tận hưởng cảm giác vừa lênh đênh trên biển, vừa thưởng thức các món đặc sản.
Lời giới thiệu: Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch do chính hộ gia đình phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ mục đích mang lại hiệu quả kinh tế, bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường.
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu phần 1 bài viết "Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng của hộ gia đình tại Quần đảo Nam Du, tỉnh Kiên Giang" của nhóm tác giả PGS. TS. Nguyễn Hồng Hà - Phó trưởng Khoa Kinh tế - Luật, Đại học Trà Vinh và Hà Minh Thảo ở Bảo hiểm Xã hội tỉnh Kiên Giang.
Bài viết nghiên cứu giải pháp phát triển du lịch cộng đồng của hộ gia đình tại quần đảo Nam Du, tỉnh Kiên Giang. Nghiên cứu đã đánh giá được thực trạng phát triển du lịch cộng đồng của hộ gia đình quần đảo Nam Du, tỉnh Kiên Giang thời gian qua; tìm ra được thuận lợi và khó khăn trong sự tham gia du lịch cộng đồng của các hộ gia đình. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đề xuất giải pháp nâng cao sự phát triển du lịch cộng đồng của hộ gia đình trong thời gian tới.
1. Giới thiệu
Nam Du là 2 trong 4 xã của huyện Kiên Hải tỉnh Kiên Giang (gồm xã An Sơn và xã Nam Du). Toàn xã có 21 hòn đảo lớn nhỏ, cách trung tâm TP. Rạch Giá là 90 km, điều kiện giao thông đi lại chủ yếu bằng đường thủy. Thế mạnh kinh tế của Nam Du là khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản, có 2 làng nghề truyền thống gắn liền với biển đảo đó là Làng nghề nuôi cá lồng bè và Làng chài lưới ghẹ. Bên cạnh đó, cảnh quan thiên nhiên rất thơ mộng, còn mang nét hoang sơ, kết hợp hài hòa giữa biển và núi với nhiều hòn đảo có bãi biển đẹp, thơ mộng, hải sản phong phú, tươi, rẻ; người dân trên đảo hiền hòa, thân thiện rất thuận lợi để phát triển du lịch cộng đồng.
Trên thực tế, Nam Du có thể phát triển nhiều loại hình du lịch, như: Du lịch khám phá mạo hiểm, nghỉ dưỡng, sinh thái, câu cá, thẻ mực, thể thao dưới nước,… Tuy nhiên, phát triển du lịch cộng đồng có thể nói là mô hình du lịch mới phù hợp với đặc điểm, điều kiện của các hộ dân đang sinh sống trên các đảo ở đây, có hiệu quả thiết thực giúp phát triển kinh tế du lịch bền vững cho người dân và địa phương.
Hiện nay, tình hình phát triển kinh tế du lịch của Quần đảo Nam Du chưa tương xứng với tiềm năng vốn có, còn tồn tại nhiều hạn chế, như: chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, sản phẩm du lịch còn đơn điệu, các doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư do địa bàn chia cắt, đi lại khó khăn. Hiện nay, khách du lịch đến Nam Du chủ yếu là khách nội địa, chất lượng phục vụ chưa đáp ứng tốt nhu cầu của du khách, vệ sinh môi trường ngày càng ô nhiễm nặng, chưa kết nối nhiều với các tour, hãng lữ hành để ổn định lượng khách, khách quốc tế đến các đảo còn phiền hà về thủ tục đi lại. Mặt khác, một số quán ăn phục vụ nhu cầu ăn uống, giải khát cho khách du lịch tự phát của người dân thiếu sự chuyên nghiệp, chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch còn nhỏ lẻ, tự phát. Nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch còn hạn chế, chưa được đào tạo bài bản, chưa theo kịp xu thế phát triển.
2. Phân tích thực trạng phát triển du lịch cộng đồng của hộ gia đình tại quần đảo Nam Du, tỉnh Kiên Giang
Quần đảo Nam Du có hơn 900 hộ, đa số sinh sống bằng nghề khai thác hải sản và nuôi cá mú, cá bớp trong lồng bè. Ngoài việc nuôi cá, các chủ bè còn kết hợp làm du lịch, với hình thức cho khách tham quan bè nuôi. Nếu ai có nhu cầu muốn cá ăn tại chỗ thì các hộ sẽ chế biến phục vụ để du khách có thể tận hưởng cảm giác vừa lênh đênh trên biển, vừa thưởng thức các món đặc sản.
Người dân Nam Du cũng chính là hướng dẫn viên du lịch thân thiện, dễ gần, phục vụ du khách rất tự nhiên, thành viên trong các hộ gia đình sẽ tự thuyết trình, giới thiệu cho du khách những loại hải sản, đặc sản của hộ mình cung cấp. Những đặc sản này sẽ do chính các hộ dân sinh sống tự đánh bắt hải sản, chế biến theo yêu cầu rồi phục vụ du khách tại chỗ. Khi khách có nhu cầu tham quan tiếp các hòn đảo khác thì các hộ dân sẽ giúp liên hệ ghe chở đi hoặc du khách tự liên hệ thỏa thuận với các chủ tàu.
2.1. Kết quả khảo sát các hộ dân về thời gian tham hoạt động du lịch tại Nam Du
Khảo sát các hộ dân về thời gian tham gia phát triển du lịch cộng đồng (DLCĐ) mục đích xác định thời gian, kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động du lịch làm căn cứ đề xuất các giải pháp phát triển DLCĐ trong thời gian tới.
Biểu đồ 1: Thời gian các hộ dân tham gia kinh doanh du lịch tại Nam Du. (Nguồn: Thống kê từ phiếu khảo sát hộ dân tại Nam Du).
Kết quả khảo sát về thời gian tham gia mô hình DLCĐ của các hộ dân tại Nam Du cho thấy 25 phiếu chiếm 23%/tổng mẫu có thời gian tham gia dưới 3 năm, có 19 phiếu chiếm 17%/tổng mẫu có thời gian tham gia từ 3 đến 5 năm, có 17 phiếu chiếm 15%/tổng mẫu có thời gian tham gia trên 5 năm, còn lại 49 mẫu chiếm 45%/tổng mẫu không ghi thời gian tham gia vì nhiều nguyên nhân. Như vậy, qua kết quả khảo sát cho thấy hiện nay số hộ dân tham gia hoạt động trong ngành Du lịch khoảng 55%/tổng mẫu khảo sát.
2.2. Kết quả khảo sát về cách thực hiện mô hình DLCĐ của các hộ dân tại Nam Du
Khảo sát các hộ dân về cách thực hiện mô hình du lịch nhằm xác định cụ thể các cách thức kinh doanh du lịch người dân đang thực hiện để có căn cứ đề xuất các giải pháp phát triển DLCĐ trong thời gian tới.
Biểu đồ 2: Khảo sát về cách thực hiện mô hình DLCĐ của các hộ dân tại Nam Du. (Nguồn: Thống kê từ phiếu khảo sát hộ dân tại Nam Du).
Kết quả khảo sát về cách thức các hộ dân thực hiện mô hình DLCĐ, tác giả đưa ra những ngành nghề kinh doanh để các đối tượng phỏng vấn đánh dấu vào. Kết quả cho thấy có 17 phiếu chiếm 15%/tổng mẫu tham kinh doanh du lịch Homstay; có 41 phiếu chiếm 37%/tổng mẫu tham gia kinh doanh du lịch bằng hình thức dịch vụ ăn uống; có 11 phiếu chiếm 10%/tổng mẫu tham gia kinh doanh du lịch bằng hình thức buôn bán hàng đặc sản, hàng lưu niệm; có 2 phiếu chiếm 2%/tổng mẫu tham gia kinh doanh mô hình du lịch bằng hình thức lặn biển ngắm san hô; có 3 phiếu chiếm 3%/tổng mẫu tham gia kinh doanh du lịch bằng hình thức thực hiện hoạt động tham gia cùng ngư dân câu cá, thẻ mực; có 3 phiếu chiếm 3%/tổng mẫu tham gia kinh doanh du lịch bằng cách hướng dẫn khách tham quan làng nghề nuôi cá lồng bè; có 8 phiếu chiếm 7%/tổng mẫu tham gia kinh doanh du lịch tắm biển, vui chới thể thao dưới nước; còn lại 25 phiếu, chiếm 23% /tổng mẫu ghi nhận hình thức khác. Như vậy, qua kết quả khảo sát cũng cho thấy có gần 70% hộ dân đã thực hiện mô hình DLCĐ với nhiều hình thức khác nhau.
2.3. Kết quả khảo sát về sự hỗ trợ của địa phương
Khảo sát về các hình thức hỗ trợ của địa phương cho các hộ dân trong kinh doanh du lịch, kết quả cụ thể.
Biểu đồ 3: Khảo sát về sự hỗ trợ của địa phương. (Nguồn: Thống kê từ phiếu khảo sát hộ dân tại Nam Du).
Kết quả khảo sát hộ dân về sự hỗ trợ của địa phương quá trình kinh doanh DLCĐ cho thấy: Có 64 phiếu chiếm 58%/tổng mẫu khảo sát cho thấy có sự hỗ trợ vay vốn để thực hiện kinh doanh du lịch, có 26 phiếu chiếm 24%/tổng mẫu khảo sát cho thấy có nhận được sự hỗ trợ của địa phương để nâng cấp cơ sở hạ tầng, có 19 phiếu chiếm 17%/tổng mẫu khảo sát cho thấy có được tập huấn kiến thức về môi trường, có 1 phiếu chiếm 1%/tổng mẫu khảo sát có nhận được sự đào tạo kỹ năng tiếp thị du lịch, không có phiếu khảo sát về vấn đề được hỗ trợ cập nhật trình độ ngoại ngữ.
2.4. Kết quả khảo sát về những khó khăn khi tiếp cận vay vốn từ các tổ chức tín dụng
Kết quả khảo sát hộ dân về khó khăn khi tiếp cận vay vốn từ các tổ chức tín dụng cho thấy có 68 phiếu chiếm 62% các hộ dân cho rằng gặp khó khăn khi tiếp cận vay vốn từ các tổ chức Tín dụng. Có 42 phiếu chiếm 38% cho rằng họ không gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn vay.
Biểu đồ 4: Khảo sát sự khó khăn khi tiếp cận vay vốn. (Nguồn: Thống kê từ phiếu khảo sát hộ dân tại Nam Du).
2.5. Kết quả khảo sát về biến động thu nhập của các hộ dân so với trước khi làm du lịch
Khảo sát về sự biến động thu nhập của các hộ dân trong kinh doanh du lịch để biết được tình hình thu nhập trước và sau khi làm du lịch làm căn cứ xác định khả năng phát triển mô hình DLCĐ của Nam Du, kết quả cụ thể được thể hiện tại Biểu đồ 5.
Biểu đồ 5: Biến động thu nhập của hộ dân. (Nguồn: Thống kê từ phiếu khảo sát hộ dân tại Nam Du).
Kết quả khảo sát về biến động thu nhập tăng của các hộ dân so với trước khi làm du lịch cho thấy có 38 phiếu chiếm 35%/tổng mẫu khảo sát cho rằng thu nhập tăng sau khi làm du lịch, còn lại 72 phiếu chiếm 65% hộ dân cho rằng thu nhập không tăng sau khi làm du lịch. Như vậy, kết quả cho thấy, các hộ dân cần được sự hỗ trợ của địa phương biết cách kinh doanh du lịch một cách tốt nhất đem lại nguồn thu cho gia đình.
2.5. Đánh giá thực trạng về khả năng tham gia mô hình DLCĐ của hộ dân tại Nam Du
Trên thực tế hiện nay cách thức triển khai hoạt động du lịch của người dân tại quần đảo Nam Du đã phát triển theo mô hình DLCĐ. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, người dân vẫn chưa thống nhất theo các quy trình, quy định, còn mang tính tự phát, thực hiện theo cảm tính. Nguyên nhân là do mô hình du lịch này còn mới mẻ, nhận thức người dân địa phương về mô hình còn hạn chế, các chính sách nhà nước tập trung phát triển và thu hút người dân còn mang tính hình thức, chưa chủ động, tích cực triển khai, vận động người dân tham gia. Tác giả đã tiến hành tổng hợp so sánh phân tích thực trạng tham gia mô hình DLCĐ tại Nam Du trong thời gian qua như Bảng 1.
Bảng 1. Bảng tổng hợp so sánh kết quả phân tích thực trạng tham gia mô hình DLCĐ tại Nam Du, Kiên Giang. (Nguồn: Số liệu từ kết quả nghiên cứu của tác giả).
(còn nữa)
