Toà án Mỹ có thể làm gì với 4 người Việt bị Facebook kiện?
Luật sư Trương Anh Tú giúp bạn đọc hiểu rõ cơ chế pháp lý của ngành luật tư pháp quốc tế đối với những vụ việc ăn cắp trên các nền tảng công nghệ xuyên biên giới.
Vụ việc Facebook khởi kiện 4 người Việt Nam lừa đảo chiếm đoạt 36 triệu USD (gần 800 tỷ đồng VN) gây rúng động dư luận quốc tế vì đây là lần đầu tiên, gã khổng lồ công nghệ Mỹ sử dụng công cụ pháp lý toà án chống lại hành vi ăn cắp, lừa đảo trên internet của 4 người Việt Nam.
Xung quanh cơ chế pháp lý mà Facebook đang sử dụng, TravelMag phỏng vấn Luật sư Trương Anh Tú, Đoàn Luật sư Hà Nội.
Luật sư Trương Anh Tú. Ảnh: Tuổi trẻ
Tòa án Mỹ có thể làm gì khi xác định 4 người Việt nói trên chiếm đoạt 36 triệu USD của Facebook, thưa ông?
Việc Facebook (FB) khởi kiện 04 người Việt Nam ra Tòa án thành phố Oakaland, Nam Califonia vì cho rằng hành vi của những đối tượng này thực hiện khiến FB bị thiệt hại 36 triệu USD, FB cũng cho rằng 04 đối tượng người Việt Nam nêu trên đã vi phạm pháp luật Liên bang Mỹ và Bộ luật Hình sự của Bang California. Vì vậy, khi Tòa án thụ lý sẽ xem xét đơn và các tài liệu, chứng cứ liên quan do FB cung cấp, nếu thấy có dấu hiệu phạm tội thì mới tiến hành các thủ tục tố tụng theo trình tự quy định pháp luật của nước sở tại. Tuy nhiên, ngay cả khi 04 đối tượng kể trên bị quy kết thực hiện hành vi phạm tội thì cũng không thể bị dẫn độ sang Hoa Kỳ để xét xử. Bởi lẽ, đây là trường hợp sẽ bị từ chối dẫn độ theo quy định tại Điều 35 Luật Tương trợ tư pháp của Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu theo luật pháp của Hoa Kỳ xác định 04 đối tượng người Việt Nam đã thực hiện hành vi phạm tội hình sự và ban hành bản án kết tội những đối tượng này thì căn cứ Điều 498 BLTTHS của Việt nam, cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho thi hành bản án của Tòa án thành phố Oakaland đối với 04 đối tượng trên.
Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (INTERPOL) có thể bắt giữ nghi phạm tại Việt Nam theo yêu cầu của tòa án Mỹ hoặc của FB không?
Cảnh sát Hình sự Quốc tế (INTERPOL) không phải là một tổ chức cảnh sát thuần túy vì INTERPOL chỉ là một cơ quan “đầu não” chuyên về điều tra, theo dõi, cung cấp tư liệu liên quan đến tội phạm hình sự, khủng bố. INTERPOL không tham gia vào công việc bắt bớ hay bất kỳ một hoạt động can thiệp vũ trang nào. Các hoạt động đó đều do cơ quan cảnh sát địa phương của quốc gia có liên quan xử lý. INTERPOL chỉ giúp đỡ các tổ chức cảnh sát địa phương trong việc theo dõi tiến trình hoạt động của các kẻ bị truy nã và phát lệnh truy nã cho các quốc gia thành viên.
Xuất phát từ yếu tố chủ quyền quốc gia, hầu hết các hoạt động tố tụng hình sự của một quốc gia chỉ có thể được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó. Vì vậy, việc xử lý tội phạm ở nước ngoài cần thông qua các Hiệp định Tương trợ Tư pháp về hình sự giữa các nước. Việc dẫn độ tội phạm giữa hai nước phải đảm bảo phù hợp với những điều khoản đã ghi trong Hiệp định tương trợ tư pháp. Đồng thời, phải đáp ứng điều kiện dẫn độ và không thuộc các trường hợp từ chối dẫn độ.
Thực tế cho đến nay Việt Nam và Hoa Kỳ chưa ký kết bất kỳ Hiệp định tương trợ tư pháp song phương nào nên dẫn độ tội phạm (nếu có) sẽ thực hiện theo nguyên tắc “có đi có lại” nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật Quốc tế và tập quán Quốc tế (khoản 2 Điều 492 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015). Hơn nữa, theo quy định Điều 35 Luật Tương trợ tư pháp 2007, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam từ chối dẫn độ nếu yêu cầu dẫn độ thuộc một trong các trường hợp sau đây: “a, Người bị yêu cầu dẫn độ là công dân Việt Nam;….".
Vì vậy, Cảnh sát Hình sự Quốc tế không thể bắt 04 nghi phạm tại Việt Nam theo yêu cầu của Tòa án thành phố Oakaland, Nam Califonia hay theo yêu cầu của Facebook.
Tuy nhiên, nếu đây là một vụ kiện cáo dân sự, thì cũng tương tự như vụ án hình sự, ở khâu thi hành. Bởi Điều 427.1, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 quy định: “Bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thì không có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam, trừ trường hợp đương nhiên được công nhận quy định tại Điều 431 của Bộ luật này”.
Điều 431 BLTTDS 2015 quy định bản án, quyết định của tòa án nước ngoài đương nhiên được công nhận tại Việt Nam khi “Bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam được quy định tại điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên”. Trong trường hợp này, việc Thi hành án cũng có thể được thực hiện trên cơ sở có đi có lại giữa hai nước.
Tại sao FB không yêu cầu thực hiện tố tụng các cá nhân này tại Việt Nam?
Trong vụ việc này có hai vấn đề đặt ra, đó là tại sao FB không đề nghị khởi tố hay khởi kiện ở Việt Nam không tố cáo đến cơ quan công an Việt Nam, phải chăng là họ chưa tin tưởng nền tư pháp Việt Nam, hay (phải chăng) là vấn đề thuế má của Facebook Việt Nam cũng đang còn nhiều vấn đề “nhập nhằng”?. Phải chăng hệ thống tư pháp Mỹ ưu việt hơn, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của những người doanh nghiệp, nên Facebook quyết định nhờ hệ thống tư pháp của nước Mỹ can thiệp, để bảo vệ quyền lợi cho mình?
Trong đơn gửi tới toà án, Facebook cho biết các bị cáo - họ Nguyễn (Thêm Nguyễn tức Nguyễn Hữu Thêm), Lê Khang, Nguyễn Quốc Bảo và Phạm Hữu Dũng (Dung Ma) - đã lừa người dùng cài đặt một ứng dụng có tên “Ad Manager cho Facebook” từ Google Play. Danh sách này được Facebook công bố tại Toà án
Tham khảo các quy phạm pháp luật về dẫn độ tội phạm theo BLTTHS 2015
Điều 35. Từ chối dẫn độ cho nước ngoài
1. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam từ chối dẫn độ nếu yêu cầu dẫn độ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người bị yêu cầu dẫn độ là công dân Việt Nam;
b) Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì người bị yêu cầu dẫn độ không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt do đã hết thời hiệu hoặc vì những lý do hợp pháp khác;
c) Người bị yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự đã bị Tòa án của Việt Nam kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật về hành vi phạm tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ hoặc vụ án đã bị đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam;
d) Người bị yêu cầu dẫn độ là người đang cư trú ở Việt Nam vì lý do có khả năng bị truy bức ở nước yêu cầu dẫn độ do có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch, dân tộc, thành phần xã hội hoặc quan điểm chính trị;
đ) Trường hợp yêu cầu dẫn độ có liên quan đến nhiều tội danh và mỗi tội danh đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nước yêu cầu dẫn độ nhưng không đáp ứng các quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này.
2. Ngoài những trường hợp từ chối dẫn độ theo quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam có thể từ chối dẫn độ nếu yêu cầu dẫn độ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Hành vi mà người bị yêu cầu dẫn độ không phải là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam;
b) Người bị yêu cầu dẫn độ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở Việt Nam về hành vi phạm tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ.
3. Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam từ chối dẫn độ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này có trách nhiệm thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước yêu cầu dẫn độ
Điều 498. Bộ luật tố tụng Hình sự
Xử lý trường hợp từ chối dẫn độ công dân Việt Nam:
Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có trách nhiệm xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ.

