Về làng quan họ Viêm Xá mà nghe khúc trữ tình dân gian

Làng Quan họ Viêm Xá là một làng quê yên bình ở ven con sông câu Bắc. Đây là trung tâm của vùng Kinh Bắc lẫy lừng với những làn điệu dân ca quan họ.

Những làn điệu dân ca quan họ từ lâu đã ghi dấu ấn trong tâm hồn của những người dân Việt Nam từ thuở xa xưa. Văn hóa quan họ trải dài trên cả vùng Kinh Bắc hiền hòa êm dịu nằm ven con sông Cầu, con sông đã chứng kiến biết bao đổi dời về lịch sử, văn hóa của Đồng bằng Bắc Bộ.

Làng quan họ Viêm Xá ở đâu?

Làng Viêm Xá, hay còn có tên gọi khác là làng Diềm. Đây là một ngôi làng có niên đại trên nghìn năm tuổi, thuộc địa phận xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây chính là trung tâm văn hóa của vùng Kinh Bắc (bao gồm tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay). 

Cổng làng Viêm Xá. Ảnh: Levanchu.

Cổng làng Viêm Xá. Ảnh: Levanchu.

Làng Viêm Xá là một ngôi làng quê hẻo lánh, vẫn giữ được những bản sắc văn hóa độc đáo của làng xã Bắc Bộ với cây đa, bến nước, sân đình. Dù trực thuộc địa phận của Thành phố Bắc Ninh, nơi đây vẫn mang dáng dấp của làng quê vắng vẻ, thanh bình vì nằm ở vùng ven, cách di chuyển cũng phức tạp, phải vượt qua con sông Cầu để đến được làng. 

Ai là người đã sáng tác ra những làn điệu quan họ đầu tiên?

Làng quan họ Viêm Xá không chỉ nổi tiếng bởi những làn điệu dân gian, mà còn có những địa danh văn hóa tâm linh nổi tiếng, thu hút sự chú ý của khách du lịch như Chùa Hương Sơn, Đền Cùng, Giếng Ngọc... Đặc biệt trong đó phải kể đến ngôi đền thờ Đức Vua Bà, người khai sinh ra những làn điệu quan họ. 

Theo những lời truyền miệng dân gian, Đức Vua Bà là con gái vua Hùng Vương. Nghĩa là những làn điệu quan họ đã tồn tại từ những ngày đầu vua Hùng dựng nước và giữ nước. Bà có 49 bậc tùy tùng, mang quan họ đến 49 ngôi làng khác. Trong 49 ngôi làng quan họ, làng Viêm Xá là ngôi làng duy nhất lập đền thờ tổ nghề quan họ, tên là Đền Vua Bà. Vào ngày 6 tháng 2 Âm lịch hàng năm, nhân dân làng Viêm Xá đều tổ chức lễ hội Đền Vua Bà, như để biết ơn thủy tổ của những làn điệu quan họ.

Đôi nét về các làn điệu quan họ

Dân ca quan họ là loại hình nghệ thuật diễn xướng đã được UNESCO công nhận là "Di sản văn hóa phi vật thể" của toàn nhân loại. Đây là loại hình diễn xướng thứ 3 được UNESCO công nhận sau Nhã nhạc cung đình Huế và Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, và cùng đợt với Ca trù. 

Các liền anh, liền chị hát quan họ trên sông. Ảnh: Originalsaigonrestaurant.

Các liền anh, liền chị hát quan họ trên sông. Ảnh: Originalsaigonrestaurant.

Quan họ không chỉ là lối hát giao duyên, hát đối giữa liền anh (bên nam) và liền chị (bên nữ), mà còn là hình thức trao đổi tình cảm của liền anh, liền chị với các khán giả. Kịch bản có thể được chuẩn bị sẵn hay tùy theo ứng biến của các liền anh, liền chị lúc diễn xướng.

Thường các liền anh sẽ mặc áo dài khăn đóng, liền chị thì vận áo tứ thân và chít khăn mỏ quạ, tay mang nón quai thoi và di chuyển trên thuyền rồng trên sông Cầu để hát đối. Hầu như các làng quan họ đều nằm ở ven con sông Cầu, nên dòng sông này còn được gọi là sông quan họ. 

Trang phục của liền anh, liền chị khi hát quan họ. Ảnh: Jonhsivert.

Trang phục của liền anh, liền chị khi hát quan họ. Ảnh: Jonhsivert.

Đối với những nghệ nhân chuyên nghiệp, người ta không gọi là "hát quan họ" mà gọi là "chơi quan họ", vì làn điệu dân gian này cần sự tung hứng một cách mượt mà, uyển chuyển nhưng cũng đòi hỏi những luật lệ, tiêu chuẩn khắc khe. Liền anh đối đáp với đôi liền chị thì gọi là hát hội, hát canh, hát cả bọn. Còn nhóm liền anh đối đáp với nhóm liền chị thì gọi là hát chúc, hát mừng, hát thờ.

Ở làng quan họ Viêm Xá còn có tục "ngủ bọn". Tức là các liền anh, liền chị khi đã đến tuổi có nhiều công việc, lo toan, không thể tham gia diễn xướng được nữa thì hàng đêm sẽ mời các trẻ em sang ngủ cùng rồi dạy cho hát quan họ. Nhờ thế, loại hình nghệ thuật này không bị mai một, mà còn được các thế hệ sau kế thừa và giữ gìn ngay từ thuở còn tấm bé.

Sự khác biệt của quan họ truyền thống và quan họ mới 

Quan họ truyền thống ở làng quan họ

Quan họ truyền thống thường chỉ được chơi tại các làng quan họ. Đối với quan họ truyền thống, người chơi không có khán giả, chỉ có liền anh, liền chị là người vừa diễn xướng, vừa trao đổi tâm tư tình cảm, đồng thời cũng là người thưởng thức các tình của bạn hát.

Quan họ truyền thống vốn không có nhạc đệm, mà chỉ là lời hát của các liền anh, liền chị. Nhiều bài quan họ truyền thống đến ngày nay vẫn còn được ưa thích như "Hừ La", "La rằng", "Bạn kim lan", "Tình tang", "Cái ả", "Cây gạo"... 

Quan họ mới

Khác với "chơi quan họ" ở quan họ truyền thống, quan họ mới còn được gọi là "hát quan họ". Quan họ mới bắt đầu có những hình thức biểu diễn mới lạ, độc đáo hơn, chủ yếu ở trên sán khấu và trong các dịp sinh hoạt cộng đồng. Có những tiết mục còn được thu đĩa CD rồi phát hành. Vì đặc trưng sân khấu, quan họ mới bắt đầu có nhạc đệm và múa phụ họa, khiến các tiết mục quan họ trở nên đặc sắc hơn.

Quan họ mới được trình diễn trên sân khấu. Ảnh: Phamductu.

Quan họ mới được trình diễn trên sân khấu. Ảnh: Phamductu.

Quan họ mới luôn có khán giả. Nó vượt qua hẳn không gian làng xã Bắc Bộ, mà đến gần hơn với bàn bè quốc tế. Những bài hát quan họ gây được sự chú ý đông đảo của công chúng có thể kể đến như "Người ở đừng về", "Sông Cầu nước chảy lơ thơ"...

Văn hóa quan họ chính là nơi phản ánh rõ nét tính cách của con người vùng Kinh Bắc. Sự nhẹ nhàng, ý nhị, kín đáo nhưng bên trong đã lồng ghép những câu hát thật chân tình. Những dòng viết trên đây, chỉ là một phần nhỏ nhoi khi nhắc đến quan họ. Đây xứng đáng là một tuyệt phẩm diễn xướng của đất nước khi giới thiệu với bạn bè quốc tế. Quan họ chính là tính cách, là con người, là những mong ước và trên hết cả là văn hóa đẹp đẽ lạ thường.