Việt Nam đang bước vào giai đoạn dân số già
Đây là nguyên nhân chính khiến Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách liên quan đến việc khuyến khích sinh đẻ, hỗ trợ chăm sóc con cái.
Từ năm 2007, Việt Nam đã bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, tức là, cứ một người trong độ tuổi phụ thuộc (dưới 15 tuổi hoặc trên 60 tuổi) thì có 2 người hoặc hơn trong độ tuổi lao động (từ 15 - 60 tuổi). Với cơ cấu dân số này, là cơ hội “vàng” để nước ta có được lực lượng lao động trẻ dồi dào trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế 2010 - 2020. Tuy nhiên, sau giai đoạn dân số “vàng” sẽ bước sang giai đoạn dân số “già”. tỷ lệ người cao tuổi tăng nhanh liên tục (Chỉ số già hoá dân số từ 18,2% năm 1989 tăng lên 44,6% năm 2014), nhanh hơn 06 năm so với dự báo .Điều đáng nói là, Việt Nam nằm trong số 10 nước có tốc độ già hóa nhanh nhất trên thế giới, sẽ chỉ mất 20 năm, tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên tăng từ 7% lên 14%.
Thống kê của cơ quan chức năng cho thấy, tính đến hết năm 2017, cả nước có 11 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 11,95% dân số, trong đó có khoảng gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên. Dự báo, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già vào năm 2035, khi tỉ lệ này tăng lên tới 20% với khoảng 21 triệu người cao tuổi.

Để dễ hình dung tốc độ này ta có thể so sánh với thế giới. Năm 2017, trên thế giới cứ 8 người thì có 1 người từ 60 tuổi trở lên, còn ở Việt Nam 9:1. Đến năm 2030, tỉ lệ này bằng nhau là 6:1 . Nhưng đến năm 2050, khi thế giới là 5:1 thì ở Việt Nam sẽ là 4:1 (khoảng 27 triệu người)
Ảnh hưởng thì chắc chúng ta cũng thấy rõ qua Nhật Bản, Hàn Quốc (2 quốc gia cũng có thể nói là giàu có trên thế giới) hiện nay đang phải chật vật với bài toán dân số già như thế nào nhưng nếu nó xảy ra ở Việt Nam chưa chắc ta đã tốt hơn mà có khi tệ hơn. Nước ta vẫn chưa thoát khỏi thu nhập trung bình ( nếu nhanh thì cũng phải mất ít nhất 15 năm nữa để thành quốc gia có thu nhập cao) và đang trong giai đoạn phát triển kinh tế nên khó mà xây dựng một hệ thống an sinh xã hội, chăm sóc người cao tuổi tốt, phù hợp với tình hình dân số như dự báo được, thậm chí nó có thể kéo lùi lại quá trình phát triển của ta trong tương lai như Nhật Bản. Vì vậy việc cần làm bây giờ là làm chậm lại quá trình già hóa bằng mọi cách trước khi ta có tiềm lực đủ để chống lại nó.

*Tóm tắt 5 những đặc trưng nổi bật của quá trình già hóa dân số Việt Nam như sau:
Thứ nhất, dân số cao tuổi Việt Nam tăng nhanh cả về số tương đối và tuyệt đối, và tăng nhanh hơn các nhóm dân số khác.
Chỉ số già hóa tăng lên nhanh chóng. So với các nước trong khu vực và trên thế giới, thời gian để Việt Nam chuẩn bị đón nhận già hóa dân số ngắn hơn rất nhiều. Bên cạnh đó, dân số cao tuổi Việt Nam có xu hướng “già ở nhóm già nhất”, tức là tỷ lệ người cao tuổi ở nhóm lớn tuổi nhất (từ 80 trở lên) đã và đang tăng lên nhanh chóng.
Thứ hai, đời sống gia đình, đời sống tinh thần và văn hóa của người cao tuổi thay đổi nhanh chóng.
Tỷ lệ người cao tuổi sống với con cái đã giảm nhanh, trong khi tỷ lệ hộ gia đình người cao tuổi sống cô đơn hoặc chỉ có vợ chồng người cao tuổi tăng lên đáng kể. Phần lớn người cao tuổi sống ở khu vực nông thôn. Dân số cao tuổi phân bố không đồng đều và rất khác biệt giữa các vùng và tỉnh. Di cư từ nông thôn ra thành thị là một nguyên nhân của tình trạng này và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của tỷ lệ hộ gia đình người cao tuổi bị “khuyết thế hệ”2 .

Thứ ba, mô hình và nguyên nhân bệnh tật của người cao tuổi đang thay đổi nhanh chóng, từ bệnh lây nhiễm sang những bệnh không lây nhiễm theo mô hình bệnh tật của một xã hội hiện đại.
Chi phí trung bình cho việc khám chữa bệnh của người cao tuổi cao gấp 7-8 lần chi phí tương ứng của một trẻ em. Mức độ tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế giữa các nhóm dân số cao tuổi rất khác nhau, trong đó dân số cao tuổi ở nông thôn, miền núi hoặc là dân tộc thiểu số có mức độ tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng còn thấp. Số lượng người cao tuổi ngày càng lớn nhưng hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi chưa thực sự được coi trọng và đầu tư phát triển tương xứng. Bản thân người cao tuổi cũng chưa ý thức được những nguy cơ bệnh tật. Tuổi thọ của người cao tuổi tăng lên, nhưng tuổi thọ khỏe mạnh lại cải thiện chậm.

Thứ tư, về lao động, việc làm và thu nhập.
Theo số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) năm 2008, khoảng 43% người cao tuổi vẫn đang làm việc với các công việc khác nhau, nhưng hầu hết là trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp với mức thu nhập còn thấp và bấp bênh. Tỷ lệ hoạt động kinh tế giảm theo độ tuổi. Người cao tuổi ở nông thôn tham gia hoạt động kinh tế nhiều hơn đáng kể so với người cao tuổi ở thành thị.

Thứ năm, tỷ lệ người cao tuổi đang tham gia hệ thống hưu trí và trợ cấp xã hội còn thấp và mức hưởng còn thấp và chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng thu nhập của hộ gia đình cao tuổi.
Tuy nhiên, hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi hiện nay lại không có tính hỗ trợ đối với phần lớn người cao tuổi, đặc biệt là nhóm người cao tuổi dễ tổn thương, vì họ không thể tham gia hệ thống hưu trí do các quy định hiện hành hoặc nhận được mức trợ cấp xã hội quá thấp. Hệ thống hưu trí đóng góp vận hành theo cơ chế tài chính thực thanh thực chi như hiện nay sẽ nhanh chóng bất cân đối về tài chính và sự cân đối này sẽ khiến cho quan hệ đóng - hưởng giữa các thế hệ và giữa nam và nữ trong các thành phần kinh tế khác nhau trở nên bất công bằng

