Chuyển đổi số với phát triển du lịch trong bối cảnh ứng phó với đại dịch Covid-19
Chính đại dịch Covid-19 đã thúc đẩy ngành Du lịch phải triển khai nhanh công tác chuyển đổi số, để khắc phục hậu quả của Covid-19, khôi phục và phát triển ngành Du lịch.
Đại dịch Covid-19 đã có ảnh hưởng tiêu cực và sâu rộng tới nền kinh tế thế giới, trong đó có ngành du lịch, vốn là một ngành rất nhạy cảm với biến động chính trị-xã hội. Quá trình phòng chống và khắc phục hậu quả của dịch Covid-19 còn kéo dài và đòi hỏi nhiều nỗ lực của các ngành, các cấp, nhưng cũng nhờ đó, ngành du lịch đang đứng trước đòi hỏi ngày càng nhiều hơn sự thay đổi về phương thức quản lý và mô hình kinh doanh. Chuyển đổi số là một hướng đi cơ bản để nhanh chóng chuyển du lịch thành một ngành kinh tế số và góp phần thúc đẩy du lịch Việt Nam phát triển trở lại trong những năm tới.
I. ĐẠI DỊCH COVID-19: NHÂN TỐ THÚC ĐẨY SỰ CHUYỂN ĐỔI CỦA NGÀNH DU LỊCH
1.1 Hậu quả của Covid-19 đối với ngành Du lịch
a. Đối với du lịch thế giới
Kể từ khi được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xác nhận và công bố, đại dịch Covid-19 đã trở thành một thảm họa chưa từng có đối với nền kinh tế thế giới nói chung và du lịch toàn cầu nói riêng. Theo báo cáo chính thức của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), thiệt hại do Covid-19 đối với du lịch quốc tế Quý I và II năm 2020 là rất nặng nề. Thiệt hại về doanh thu của ngành du lịch toàn thế giới trong quý I ước tính là 80 tỷ USD và trong quý II là 460 tỷ USD, gấp 5 lần thiệt hại từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2009.
Bảng 1. Thiệt hại của Du lịch do Đại dịch Covid-19
| Quý I (báo cáo tháng 5/2020) | 6 tháng (báo cáo ngày 15/9) | |||
| Số lượng | ||||
| 1. Khách du lịch quốc tế - Tỷ lệ giảm - Số lượng giảm | 22% (tháng 3 – 57%) | 67 triệu khách | 65% (tháng 6- 93%) 440 triệu khách | - Châu Á TBD: 72% - Châu Âu: 66% - Châu Mỹ: 55% - Châu Phi và Trung Đông: 57% + Đông Bắc Á: 83% + Nam Địa Trung Hải: 72% |
| 2. Hạn chế đi lại (đến 20/4) - Đóng cửa hoàn toàn hoặc một phần biên giới đối với khách du lịch. - Hàng không: Dừng toàn bộ hoặc một phần. - Đóng cửa biên giới đối với hành khách từ các vùng cụ thể. | 100% 45% 30% 18% | 97 quốc gia 65 quốc gia 39 quốc gia | ||
| 3. Thiệt hại kinh tế | 80 tỷ USD | 460 tỷ USD | Gấp 5 lần thiệt hại đợt khủng khoảng tài chính toàn cầu 2009 | |
Để dự báo thiệt hại do đại dịch Covid-19 gây ra, UNWTO xây dựng 3 kịch bản với độ suy giảm của du lịch quốc tế tương ứng 58%, 70%, 78%. Trong 6 tháng đầu năm 2020, Du lịch thế giới đi theo kịch bản 2 là suy giảm khoảng 70%, thiệt hại từ du lịch quốc tế (xuất khẩu) toàn cầu ước khoảng 1.000 tỷ USD với lượng khách quốc tế toàn cầu sẽ giảm 1 tỷ lượt người.
Biểu đồ 1: Lượng khách quốc tế 2000 – 2019 và kịch bản 2020 (có thể mất 1 tỷ khách)

Biểu đồ 2: Thu nhập từ khách quốc tế 2000 – 2019 và kịch bản 2020 (có thể mất gần 1.000 tỷ USD)
b. Đối với Du lịch Việt Nam
Trong 4 năm qua, Du lịch Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng vượt bậc, năm 2019 đã đón trên 18 triệu lượt khách quốc tế, 85 triệu lượt khách nội địa, doanh thu đạt trên 32 tỷ USD, đóng góp trực tiếp 9,3% GDP và lan tỏa tới gần 18% GDP. Khi dịch Covid-19 xuất hiện, quá trình tăng trưởng trên đã dừng lại. Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Chính phủ, sự tham gia tích cực của cả xã hội, tình hình dịch bệnh Covid-19 ở Việt Nam không quá nghiêm trọng. Kinh tế Việt Nam nói chung và Du lịch nói riêng vẫn bị thiệt hại nặng nề. HHDLVN dự kiến thiệt hại của Du lịch Việt Nam năm 2020:
- Khách quốc tế vào Việt Nam: Quý I năm 2020, Việt Nam đón được 3,7 triệu. Do đóng cửa biên giới, 3 Quý còn lại cơ bản không có khách quốc tế. Do vậy, khách quốc tế năm 2020 sẽ chỉ đạt tối đa 30% so với năm 2019 (thiệt hại ít nhất 70%).
- Khách nội địa: đã triển khai Chương trình kích cầu đợt 1 (từ tháng 5 – 7/2020) và sẽ tiếp tục triển khai kích cầu đợt 2 (từ tháng 10 – 12/2020). Tuy nhiên tối đa cả năm lượng khách nội địa chỉ đạt 50% so với năm 2019.
- Khách quốc tế ra (outbound) từ tháng 3/2020 cơ bản không có khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Thiệt hại từ kinh doanh outbound ước khoảng 85%.
- Doanh thu du lịch năm 2019 đạt 755.000 tỷ VND, với dự kiến lượng khách như trên, doanh thu du lịch Việt Nam năm 2020 (inbound và nội địa) chỉ đạt khoảng 300.000 tỷ VND (thiệt hại 61% so với 2019).
Khách sạn Metropole Hà Nội tạm ngừng hoạt động hồi tháng 3/2020 do Covid-19. (Ảnh: Báo Hải Quan chụp ngày 9/3/2020).
c. Đối với khách du lịch: Dịch bệnh Covid-19 đã làm thay đổi tâm lý của khách du lịch Việt Nam theo các hướng sau:
- Ngại tiếp xúc, do vậy ít có cơ hội tìm hiểu sản phẩm du lịch, trao đổi các giải pháp an toàn du lịch từ công ty Du lịch.
- Chuyển hướng du lịch theo nhóm nhỏ, lấy gia đình làm trọng tâm.
- Thích đi gần.
- Chọn các dịch vụ tốt nhưng mong muốn giá thấp.
- Sẵn sàng thay đổi, hủy bỏ chương trình du lịch.
- Tâm lý đám đông, các tin đồn, quảng cáo luôn ảnh hưởng nhiều đến tâm lý của khách.
d. Đối với doanh nghiệp du lịch
- Các doanh nghiệp du lịch bất ngờ, đôi khi mất phương hướng trước các tác động không lường được của dịch Covid-19.
- Phần lớn doanh nghiệp du lịch kỳ vọng vào sự hỗ trợ của Nhà nước, của các địa phương.
- Mối quan hệ giữa các đơn vị cung cấp dịch vụ luôn bị căng thẳng theo diễn biến của dịch bệnh (khách hủy tour; hoàn; hủy vé máy bay, tàu; hủy phòng khách sạn và các dịch vụ du lịch, kinh phí tạm ứng, kinh phí trả lại khách).
Đến nay trên 95% doanh nghiệp du lịch bị ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch Covid-19, khoảng 20 – 30% doanh nghiệp du lịch có nguy cơ phá sản, nếu dịch kéo dài sang 2021, khách quốc tế không vào được Việt Nam số lượng các doanh nghiệp du lịch giải thể có thể lên tới 50 – 60%. Thực tế cho thấy, dù có kết quả nhất định, nhưng giải pháp kích cầu chỉ có thể khắc phục một phần hậu quả của dịch Covid-19.
1.2. Quá trình khắc phục hậu quả của dịch Covid-19 đã mang lại những bài học mới cho ngành Du lịch:
a. Sự quan tâm của Chính phủ, chính quyền các địa phương: được thể hiện thông qua nhiều biện pháp cụ thể như: Chính phủ đã ban hành các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch (giãn thời gian nộp thuế, giảm tiền điện, giảm tiền thuế đất, giảm phí, lệ phí,…); Chính quyền các tỉnh, thành phố miễn giảm vé thăm quan, phí, lệ phí cho doanh nghiệp và khách du lịch.
b. Nỗ lực của ngành Du lịch
- Bộ VHTT&DL, Tổng cục Du lịch đã kiến nghị với Chính phủ hỗ trợ doanh nghiệp du lịch (thuế, lãi suất,…), phát động Chương trình kích cầu “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam”.
- HHDLVN đã triển khai kịp thời chương trình kích cầu, tích cực công tác phòng chống dịch Covid-19 và nhiều lần trực tiếp kiến nghị tổ chức với Chính phủ, Bộ, Ngành các giải pháp hỗ trợ DNDL và tổ chức các hoạt động khi điều kiện cho phép:
+ Xây dựng và ban hành Quy định về an toàn trong phòng chống dịch Covid-19 (20/2/2020) cho các doanh nghiệp hội viên.
+ Triển khai Chương trình kích cầu du lịch (20/2/2020, 17/5/2020).
+ Tổ chức nhiều hoạt động trực tiếp hoặc trực tuyến để trao đổi, phối hợp có hiệu quả hoạt động của các Hiệp hội chuyên ngành, các Hiệp hội du lịch địa phương và các doanh nghiệp nhằm khôi phục hoạt động du lịch mỗi khi có cơ hội.
+ Nghiên cứu, trao đổi với các tổ chức trong và ngoài nước về chương trình chuyển đổi số trong Du lịch.
c. Những bài học kinh nghiệm trong phòng chống dịch Covid-19
Đại dịch Covid-19 tạo ra cơ hội để ngành Du lịch phải thay đổi: Sự tàn phá một cách toàn diện nếu kinh tế nói chung và du lịch nói riêng của Covid-19 cho thấy nhiều nền tảng quản lý và kinh doanh truyền thống không đủ khả năng chống lại dịch Covid-19. Sự kết nối giữa các bộ phận của quá trình sản xuất, kinh doanh dưới dạng đơn tuyến đã không còn phù hợp với tình trạng do Covid-19 gây ra.
Sự nguy hiểm, khó lường của Covid-19 đã làm hành vi của khách du lịch thay đổi theo chiều hướng cảm tính, khó phán đoán, thay đổi liên tục, bất thường… nhiều khi doanh nghiệp không thể đáp ứng được. Bởi vậy, chỉ khi doanh nghiệp có hệ thống thông tin về khách, về sản phẩm và dịch vụ, việc đề xuất các giải pháp, tính toán chi phí, điều hành dựa trên cơ sở phân tích các dữ liệu một cách khoa học mới có thể đáp ứng nhu cầu của khách. Điều đó cho thấy chỉ các doanh nghiệp du lịch triển khai chuyển đổi số mới có thể đáp ứng nhu cầu này.
Vì vậy, chính đại dịch Covid-19 đã thúc đẩy ngành Du lịch phải triển khai nhanh công tác chuyển đổi số, để khắc phục hậu quả của Covid-19, khôi phục và phát triển ngành Du lịch.
II. CHUYỂN ĐỔI SỐ
2.1. Khái niệm Chuyển đổi số
- Số hóa: Chuyển đổi số luôn bắt đầu bằng quá trình số hóa. Số hóa được hiểu là là việc chuyển dữ liệu thực, quy trình hoạt động theo dữ liệu tương tự (analogue data) sang định dạng máy tính có thể đọc được. Số hóa hiện đã khá phổ biển trong đời sống xã hội hiện nay khi nhiều dữ liệu dưới dạng giấy đã được đưa vào quản lý trên máy tính trực tiếp hoặc thông qua các thiết bị (nhập dữ liệu, scan, chụp ảnh,…).
- Chuyển đổi số: là việc sử dụng công nghệ số kết nối với các dữ liệu số để tạo ra các quy trình mới, nâng cao khả năng phân tích dữ liệu, kết nối các hoạt động trong và ngoài hệ thống, nâng cao năng xuất lao động, tạo ra các giá trị cao cho doanh nghiệp, lợi ích cho khách hàng. Vì vậy, chuyển đổi số là chuyển đổi mô hình kinh doanh, là sử dụng các công nghệ hiện đại trong quản lý và kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2 Lợi ích của việc chuyển đổi số
- Lợi ích của việc chuyển đổi số đối với doanh nghiệp
- Góp phần cơ cấu lại doanh nghiệp theo hướng tính, gọn, vận hành tối ưu cơ sở dữ liệu.
+ Xây dựng mô hình quản lý hiện đại, từng bước tự động hóa ở một số khâu.
+ Đổi mới nhân sự, tăng cường liên kết giữa các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp.
- Xây dựng được cơ sở dữ liệu để tăng khả năng phân tích, bảo mật (dữ liệu về khách hàng, về đối tác, về sản phẩm,…).
- Mở rộng thị trường, nâng cao khả năng trải nghiệm cho khách hàng.
- Nâng cao khả năng trải nghiệm cho khách hàng.
- Nâng cao năng suất lao động các bộ phận, tăng doanh thu và lợi nhuận.
- Lợi ích của việc chuyển đổi số đối với quốc gia
Chuyển đổi số không chỉ nâng cao giá trị của doanh nghiệp mà còn thay đổi cả nền kinh tế và mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia. Theo Microsoft, chuyển đổi số tác động đến GDP của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, năm 2017 là 6%, 2019 là 25% và 2021 là 60%. Theo nghiên cứu của Công ty McKensey đến năm 2025 tác động của chuyển đổi số vào GDP của nước Mỹ là 25%, Châu Âu là 36%. Như vậy chuyển đổi số là xu thế tất yếu của nền kinh tế toàn cầu.
2.3 Chuyển đổi số ở Việt Nam
Việt Nam đã tiếp cận và từng bước triển khai chuyển đổi số. Trong năm 2019, chuyển đổi số là từ khóa được nhắc nhiều nhất trong các cơ quan hoạch định chính sách, các nhà khoa học và các doanh nhân. Đặc biệt trong giai đoạn phòng chống dịch Covid-19, chuyển đổi số lại được quan tâm nhiều hơn.
- Về phía Chính phủ, với sự chi đạo quyết liệt của Thủ tướng, các hoạt động của Chính phủ đang từng bước chuyển sang Chính phủ điện tử. Cổng dịch vụ công quốc gia ra đời đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ của việc chuyển đổi số ở tầm quốc gia. Hệ thống thông tin một cửa điện tử, cổng dịch vụ công cấp Bộ, cấp tỉnh đang từng bước triển khai và phát huy hiệu quả.
- Khẳng định quyết tâm của Chính phủ, xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia số, ngày 05/6/2020 Thủ tường Chính phủ đã có Quyết định số 749/QĐ-Ttg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
Quyết định đã xác định đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới, đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp.
- Về các ngành: Các ngành giáo dục, y tế, giao thông, điện lực, nông nghiệp, du lịch,… đang bắt đầu tham gia vào chuyển đổi số.
- Về các địa phương, một số thành phố đang có kế hoạch xây dựng thành phố thông minh.
Với quyết tâm cao của Chính phủ, sự hưởng ứng của toàn xã hội, Chương trình chuyển đổi số ở Việt Nam đã phát triển nhanh chóng và hứa hẹn nhiều thành công.
III. CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH
Chương trình chuyển đổi số đã và đang chuyển đổi nền kinh tế - xã hội của thế giới. Các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều cơ hội hơn khi triển khai chuyển đổi số.
3.1 Nhận thức về chuyển đổi số trong các doanh nghiệp du lịch:
Để triển khai chuyển đổi số, các doanh nghiệp cần nhận thức được các nội dung sau:
- Nhận thức được các yếu tố chính của hệ sinh thái công nghệ số đang phát triển và một số cơ hội (và các thách thức) từ việc áp dụng chúng.
- Hiểu cuộc cách mạng dữ liệu đang diễn ra cũng như cách mà dữ liệu và luồng dữ liệu ảnh hướng đến các cá nhân, nền kinh tế và xã hội một cách rộng rãi hơn.
- Xác định các đặc tính cơ bản của chuyển đổi số, bao gồm cách chuyển đổi số thúc đẩy và phát triển các mô hình kinh doanh mới cũng như sự tác động của chuyển đổi số đối với chính sách công.
3.2 Xu hướng chuyển đổi số thúc đẩy sự thay đổi trong du lịch
- Ứng dụng thành tựu trong công nghệ số làm tăng năng suất, doanh thu của doanh nghiệp du lịch, ví dụ: Kinh tế chia sẻ mới ra đời khoảng 10 năm, giá trị đi xe chung năm 2019 đạt 61 tỷ USD, giá trị của chia sẻ chỗ ở đạt 40 tỷ USD. Theo Công ty kiểm toán PwC, dự báo tới năm 2025, giá trị kinh tế chia sẻ sẽ đạt 335 tỷ USD.
- Chuyển đổi số làm cho nhiều khái niệm truyền thống phải thay đổi.
+ Mô hình kinh doanh là cấu trúc theo đó một doanh nghiệp tạo ra, cung cấp và thu giá trị. Mô hình kinh doanh bao gồm nội tại của doanh nghiệp, mối liên kết và mối quan hệ với các đối tác.
+ Chuỗi giá trị là mối liên kết dọc trong quá trình sản xuất – tiêu dùng, theo đó mô tả cách thức doanh nghiệp phối hợp với Chính phủ, xã hội để nhận hoặc tiếp nhận các nguồn lực làm đầu vào, gia tăng giá trị thông qua các quá trình khác nhau và bán sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm du lịch.
+ Hệ sinh thái giá trị toàn cầu là tập hợp các mối quan hệ và trao đổi thông qua hệ thống công nghệ (phân tán, linh hoạt, năng động) giữa các đối tác để tiêu thụ và chia sẻ giá trị trong du lịch. Hệ sinh thái bao gồm các tương tác giữa các dạng thực thể, con người, nhà sản xuất, Chính phủ, cộng đồng, hạ tầng, thiên nhiên, công nghệ số,…
- Chuyển đổi số làm chuyển đổi quá trình giao tiếp với khách du lịch và maketing dịch vụ du lịch, đồng thời mở ra những cách thức mới, có tính sáng tạo cao trong việc cung cấp dịch vụ du lịch và nâng cao trải nghiệm của du khách.
- Diễn đàn kinh thế thế giới (WEF) ước tính việc chuyển đổi số giai đoạn 2015 – 2025 sẽ tạo ra 305 tỷ USD cho ngành Du lịch và tạo ra lợi ích 700 tỷ USD cho khách du lịch và xã hội thông qua việc giảm tác động đến môi trường, cải thiện an toàn, tiết kiệm chi phí và thời gian cho khách.
3.3 Tạo giá trị thông qua chuyển đổi số trong du lịch:
Chuyển đổi số tạo ra giá trị cho ngành Du lịch theo các hướng sau:
| Bảng 2: Tạo giá trị thông qua chuyển đổi kỹ thuật số trong du lịch | |||
| Vấn đề | Kinh doanh truyền thống Kinh doanh | Kinh doanh sử dụng công nghệ số | Giá trị |
| Tương tác và cam kết với khách hàng | Sản phẩm trực tiếp đối mặt với chiến lược bán hàng | Các công cụ và công nghệ đối mặt với khách hàng tạo điều kiện thuận lợi cho hành trình khách hàng liên tục với nhiều điểm tiếp xúc và tương tác với với khách hàng | khách hàng Khách hàng - khách truy cập nâng cao trải nghiệm thông qua các tương tác trực tiếp và kỹ thuật số hỗn hợp Các doanh nghiệp vừa và nhỏ - giảm chi phí giao dịch, tương tác theo thời gian thực |
| Phân tích thị trường và marketing | Dự báo thị trường | Phân tích dữ liệu, ra quyết định thông minh, dữ liệu khách hàng thời gian thực vàchia sẻ dữ liệu | Khách hàng - sản phẩm tùy chỉnh, những trải nghiệm; liên quan đến quyền riêng tư dữ liệu SME - tăng sự phù hợp sản phẩm-khách hàng; bảo mật dữ liệu và quản lý quyền riêng tư |
| Quy trình quản lý kinh doanh | Chu kỳ quản lý (hàng năm, hàng quý, hàng tháng) | Tự động hóa quy trình, tăng hiệu quả, quản lý thích ứng | Khách hàng - giảm giá, cải tiến sản phẩm Doanh nghiệp vừa và nhỏ - hiệu quả quản lý và kịp thời, tăng hiệu quả chi phí |
| Lập kế hoạch kinh doanh | Dự kiến kinh doanh và lập kế hoạch chiến lược | Áp dụng cải tiến liên tục; kiểm tra nhanh chóng; phản hồi theo thời gian thực và ra quyết định | Các doanh nghiệp vừa và nhỏ - hiệu quả quản lý và tính kịp thời, tăng hiệu quả chi phí, đổi mới sản xuất |
| Phát triển sản phẩm | Đầu tư chủ yếu cho sản phẩm và tài sản tài chính | khách hàng được dẫn dắt và thúc đẩy bởi tài sản thông tin, đồng sáng tạo và hợp tác | Khách hàng - lựa chọn nhiều hơn, tùy chỉnh, hài lòng SME- tăng khả năng cạnh tranh, hiệu quả chi phí, giảm rủi ro trong phát triển sản phẩm mới |
| Mô hình kinh doanh | Kinh doanh truyền thống như thường lệ, vai trò của nhà cung cấp và khách hàng được xác định rõ ràng. | Hợp tác, có mạng lưới thương mại, kiến trúc mở, nền tảng nhiều mặt làm mờ đi vai trò giữa khách hàng - nhà sản xuất. | Khách hàng – có nhiều hơn sự lựa chọn, trải nghiệm liền mạch, tăng mức độ hài lòng Các doanh nghiệp vừa và nhỏ - hiệu quả quản lý và sự kịp thời, tăng hiệu quả chi phí. |
Nguồn: OECD (2020)
3.4. Các công nghệ được sử dụng trong chuyển đổi số của ngành Du lịch
Công nghệ di động đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi số của ngành Du lịch. (Ảnh minh họa: tgroup.vn).
- Công nghệ di động: Việc phát triển công nghệ đám mây, wifi và di động quốc tế khiến thiết bị di động ngày càng phổ biến và là phương tiện hỗ trợ du lịch quan trọng, bao gồm truy cập thông tin điểm đến trong thời gian thực, đặt phòng trực tuyến, thanh toán di động. Công nghệ đám mây cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ quản lý hoạt động kinh doanh của họ từ bất kỳ nơi nào có sẵn internet tốc độ cao.
- Điện toán đám mây và Internet vạn vật (IoT) là hai công nghệ hàng đầu được trên 50% doanh nghiệp (được khảo sát bởi Euromotitor) có kế hoạch đầu tư trong 5 năm tới. IoT có thể thúc đẩy ngành du lịch làm giàu dữ liệu và hỗ trợ du lịch thông minh. Khả năng tương tác của cảm biến, dữ liệu và tự động hóa tạo ra thông tin và thông tin chi tiết theo thời gian thực để tiếp thị và quản lý du lịch, để cải thiện trải nghiệm của du khách, tăng hiệu quả hoạt động đồng thời giảm tác động đến môi trường.
- Thực tế tăng cường, thực tế ảo (AR/VR). Hệ thống thực tế tăng cường hiển thị các đối tượng ảo trong thế giới thực. Các ứng dụng trong du lịch có thể bao gồm việc thay thế các tài liệu quảng cáo và tiếp thị trên giấy, nâng cao trải nghiệm của du khách tại điểm đến cũng như hỗ trợ, hướng dẫn người dùng thông qua các hệ thống giao thông công cộng phức tạp trong thời gian thực.
- AI- Trí tuệ nhân tạo là công nghệ nổi bật nhất và có tác động lớn nhất đến hoạt động của các doanh nghiệp trong 5 năm tới. Gần 60% các nhà lãnh đạo trong ngành Du lịch đang kỳ vọng AI sẽ định hình hoặc ảnh hưởng đến việc điều hành các hoạt động, gắn kết với người tiêu dùng và nâng cao trải nghiệm của khách hàng.
Trí tuệ nhân tạo, chatbot và công nghệ giọng nói cho phép khách hàng thực hiện tìm kiếm internet, đăng ký kỹ thuật số, truy cập dịch vụ trợ giúp kỹ thuật số, trợ lý giọng nói và tìm kiếm phòng thông minh. Công nghệ này cung cấp dịch vụ cá nhân hóa, tùy chỉnh, theo yêu cầu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển liên tục.
- Block chain (chuỗi khối): Các hợp đồng thông minh, dựa trên blockchain, có thể được sử dụng trên toàn bộ chuỗi cung ứng. Những lợi ích trong tương lai sẽ cho thấy các ứng dụng thân thiện với người dùng được điều chỉnh để phổ biến rộng rãi tới các doanh nghiệp du lịch thuộc mọi quy mô nhằm nâng cao tính minh bạch của người dùng đầu cuối.
- Thương mại điện tử: Do tính chất thông dụng thông tin của các dịch vụ du lịch, thông tin du lịch thường có sẵn trên internet và dễ tiếp cận, do đó ngành du lịch vượt trội so với các ngành khác khi xét về thị phần bán hàng trực tuyến. Dữ liệu của OECD (2019) cho thấy trung bình 77% doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú và ăn uống ở các nước OECD có trang web hoặc trang chủ và 70% sự dụng mạng xã hội. Ngành du lịch đã chấp nhận thương mại điện tử, vì các nền tảng trực tuyến và hệ thống thanh toán đã thay đổi cách mọi người.
3.5. Chuyển đổi số phù hợp với loại hình của DNDL
Ngành Du lịch có một số loại hình kinh doanh khác nhau, quy mô hoạt động cũng khác nhau, vì vậy chuyển đổi số phải phù hợp với loại hình kinh doanh và quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Để triển khai chuyển đổi số, cần lưu ý các nội dung sau:
- Loại hình, quy mô, đặc điểm và phân ngành của doanh nghiệp du lịch (ví dụ: vận tải, lưu trú, dịch vụ cá nhân).
- Tiếp cận công nghệ, thông tin, chuyên môn, lời khuyên, cố vấn và các nguồn lực và hỗ trợ khác.
- Khả năng quản lý và hoạch định chiến lược, giúp định hình mức độ mà chủ doanh nghiệp cảm nhận được cơ hội, nhận thức được rủi ro và có động lực để nắm bắt cơ hội.
- Vị trí của doanh nghiệp, bố cảnh xã hội và kinh tế, khả năng tiếp cận và tính khả dụng của công nghệ kỹ thuật số.
3.6. Nội dung của chương trình chuyển đổi số của các doanh nghiệp du lịch:
Nội dung cơ bản của chương trình chuyển đổi số của ngành Du lịch là xây dựng nền tảng dữ liệu du lịch và hệ thống công nghệ số để tự động hóa các quy trình cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho khách du lịch, quản lý, giám sát, đảm bảo an ninh an toàn trong quá trình phục vụ khách du lịch, nâng cao chất lượng hiệu quả dịch vụ, tăng năng suất lao động, mang lại giá trị cao cho doanh nghiệp.
(Ảnh minh họa: tgroup.vn)
- Xây dựng hệ thống dữ liệu lớn của doanh nghiệp (big data)
- Cơ sở dữ liệu khách hàng
Khách hàng ngày nay đang có nhiều thay đổi. Nhu cầu của khách ngày một cao về chất lượng và hiệu quả. Họ có điều kiện để tìm hiểu thông tin, tìm hiểu các sản phẩm dịch vụ phù hợp theo phương châm dịch vụ tốt nhất và mức giá thấp nhất có thể. Xu thế khách muốn tiếp cận trực tiếp với các đơn vị chịu trách nhiệm cung cấp sản phẩm dịch vụ hoặc trải nghiệm du lịch cuối cùng. Vì có nhiều thông tin nhu cầu thay đổi dịch vụ của khách trong quá trình du lịch ngày càng một nhiều hơn.
- Cơ sở dữ liệu sản phẩm và dịch vụ
+ Sản phẩm và dịch vụ trực tiếp cung cấp
+ Sản phẩm và dịch vụ do các đơn vị khác cung cấp
- Ứng dụng công nghệ số trong các hoạt động của doanh nghiệp
Dựa trên nền tảng dữ liệu, doanh nghiệp lựa chọn ứng dụng các công nghệ số phù hợp để từng bước xây dựng các chương trình điều hành hoạt động của doanh nghiệp:
- Chương trình phân tích dữ liệu
- Chương trình kết nối giữa nhà điều hành và các đơn vị, cá nhân cung cấp dịch vụ để đặt dịch vụ, thay đổi dịch vụ, thanh toán,…
- Chương trình xây dựng sản phẩm du lịch
- Chương trình điều hành các tour du lịch
- Chương trình điều hành doanh nghiệp, phối hợp các bộ phận trong một hệ thống số để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Xây dựng hệ thống marketing số để nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến quảng bá sản phẩm.
- Ứng dụng thương mại điện tử
Đưa du lịch trực tuyến trở thành một kênh chủ lực để quảng bá và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ du lịch cho khách hàng.
Tham gia các hoạt động TMĐT để mở rộng phạm vi hoạt động, tạo kênh phân phối sản phẩm, liên kết các nhà cung cấp dịch vụ để tạo thành chuỗi cung ứng các sàn giao dịch điện tử.
- Phát triển kinh tế chia sẻ để phát huy cao giá trị các dịch vụ du lịch và tài sản của doanh nghiệp.
Nền kinh tế chia sẻ ra đời đã góp phần khai thác có hiệu quả tài sản, dịch vụ của cả xã hội. Cùng dựa trên thành tựu của công nghệ 4.0, khai thác lợi thế của internet, chương trình chuyển đổi số của các doanh nghiệp du lịch cũng có thể ứng dụng các giải pháp phù hợp của kinh tế chia sẻ trong việc kết hợp với các doanh nghiệp, cá nhân nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho cả 2 bên (thuê phòng, thuê thiết bị vận chuyển,…).
Tùy điều kiện cụ thể, các doanh nghiệp du lịch có thể xây dựng các công cụ công nghệ khác, tham gia vào nền tảng chung để việc kinh doanh có hiệu quả cao hơn.
Thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, của các công nghệ hiện đại, của các vật liệu mới đã và đang làm thay đổi từ nhận thức, tri thức, đến mọi mặt xã hội. Du lịch là ngành kinh tế gắn liền với đời sống xã hội, do vậy cần thiết phải đi trước trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động của mình. Với sự nhạy bén, năng động của người Việt Nam, việc chuyển đổi số sẽ nhận được sự tham gia và ủng hộ của các doanh nghiệp du lịch, góp phần đưa Du lịch Việt Nam phát triển nhanh hơn, thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- OECD (2020), OECD Tourism Trends and Policies 2020, đăng tải ngày 17 tháng 8 năm 2020.
- PATA (2002), Latest online booking trends, Volume 7 Issue 7.
- PATA (2019), Harnessing Digital Disruption for Success in tourism, Issues & Trends 2019 Volume 24 1H 2019.
- UNWTO (2020), Impact assessment of the COVID-19 outbreak on international tourism, đăng tải ngày 20 tháng 9 năm 2020
- UNCTAD (2020), Digital Economy Report 2019, phát hành ngày 25 tháng 7 năm 2020.
- UNWTO (2020), Digital transformation, đăng tải ngày 11 tháng 8 năm 2020.
- WTM (2019), Digital transformation in tourism: how to begin?, đăng tải ngày 20 tháng 9 năm 2020
- Visa (2019), Global Travel Intentions Study Highlights 2018, đăng tải ngày 15 tháng 9 năm 2020.
- Deloitte (2019), Digital disruption: Short fuse, big bang?, đăng tải ngày 16 tháng 7 năm 2020.
Các địa điểm được du khách Việt yêu thích nhất cho mùa lễ hội năm 2022
Năm 2022 đánh dấu sự trở lại đầy hứa hẹn của những chuyến chu du dành cho những trái tim ưa xê dịch và đã sẵn sàng bước ra ngoài thế giới, tận hưởng tất cả những điều tuyệt vời nhất của mùa lễ hội năm nay.
'Luồng xanh' cho du lịch cất cánh: 'Covid-19 buộc tất cả phải chọn chuyển đổi số hay không tồn tại'
Tại diễn đàn “Luồng xanh” cho du lịch cất cánh – Chuyên đề II: Chuyển đổi số: Động lực phát triển bền vững", ông Hoàng Quang Phòng cho rằng Covid-19 làm cho ngành du lịch trải qua những ngày đau đớn và chính cơn "sóng thần" này đẩy tất cả buộc phải lựa chọn: chuyển đổi số hay là không tồn tại nữa”?
Ứng dụng công nghệ số trong phát triển du lịch Hà Nội
Trước ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, chuyển đổi số được các công ty du lịch triển khai mạnh mẽ hơn.
Tiềm năng du lịch to lớn và lời kêu gọi doanh nghiệp đến Kon Tum để viết lên thành công
Theo Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Nguyễn Văn Hùng, du lịch Kon Tum trên bản đồ Việt Nam vẫn đang là tờ giấy trắng và các doanh nghiệp hãy đến với Kon Tum để viết lên thành công của chính mình.
Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch hậu Covid-19
Trong khuôn khổ VITM Hà Nội 2022, Hiệp hội Du lịch Việt Nam đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo Khôi phục và phát triển nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh bình thường mới.
Năm định hướng phục hồi du lịch và những vấn đề cần phải giải quyết
Tại Diễn đàn "Phục hồi Du lịch Việt Nam, định hướng mới, hành động mới", bên cạnh 5 định hướng do Tổng cục trưởng Nguyễn Trùng Khánh đưa ra, các đại biểu cũng đã thảo luận về những vấn đề cấp bách để du lịch nhanh chóng phục hồi và phát triển.
Những vấn đề du lịch Việt Nam phải đối diện khi mở cửa
Tại buổi thảo luận với chủ đề "Việt Nam - Trải nghiệm trọn vẹn", các vấn đề về nguồn nhân lực, việc làm mới các sản phẩm du lịch cũng như bảo đảm an toàn cho du khách... đã được đem ra thảo luận, phân tích.
Đề nghị 5 điểm nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch
Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Đạo Cương cho hay Bộ chính thức phát động mở lại các hoạt động du lịch trên phạm vi cả nước và đề nghị 5 điểm đối vơi scác địa phương, các điểm đến, các doanh nghiệp nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch, đẩy nhanh tốc độ phục hồi du lịch trong điều kiện bình thường mới.
Mở cửa toàn diện du lịch: 'Trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch'
Đề cập tới quyết định mở cửa toàn diện du lịch của Chính phủ, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam Vũ Thế Bình cho rằng "trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch, phải chứng minh chính sách mở cửa là đúng đắn".
Giải pháp nào cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam?
Chuyển đổi số hoạt động du lịch theo hướng cung cấp đầy đủ thông tin và trải nghiệm trực tuyến cho khách du lịch trước khi thực hiện chuyến đi và trong khi thực hiện chuyến đi theo thời gian thực.
Cơ hội, thách thức cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam
Theo ông Nguyễn Huy Dũng, bên cạnh những cơ hội thì tư duy, nhận thức đối với xu hướng phát triển tất yếu của du lịch thông minh, chuyển đổi số du lịch chưa cao là một trong những thách thức...
Ngành tài chính đã hỗ trợ du lịch vượt khó như thế nào?
Bên cạnh những giải pháp về thuế, phí và lệ phí, ngành tài chính còn áp dụng giải pháp về chi ngân sách nhà nước và một số giải pháp khác nhằm hỗ trợ du lịch vượt khó do Covid-19.
Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam
Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam dự kiến chia 2 giai đoạn kèm theo các nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên cụ thể: mở lại du lịch nội địa và du lịch quốc tế; phục hồi và phát triển đạt mức trước dịch.
5 đề xuất lớn để du lịch Đà Nẵng sớm phục hồi trong bối cảnh mới
Theo ông Lê Trung Chinh, để tạo điều kiện thuận lợi giúp du lịch Đà Nẵng nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung sớm phục hồi và phát triển trong bối cảnh mới, thành phố này có đề xuất một số nội dung giải pháp, chính sách thu hút đầu tư, phát triển du lịch.
Du lịch Đà Nẵng và những biện pháp để phục hồi trước ảnh hưởng do Covid-19
Với việc chuẩn bị để có tên trong 5 điểm đến thí điểm đầu tiên trong việc đón khách du lịch quốc tế, Đà Nẵng đã thể hiện mong muốn mạnh mẽ từng bước khôi phục hoạt động du lịch trong nước và quốc tế
Những chính sách đã từng giúp du lịch Đà Nẵng có bước phát triển đột phá
Theo vị Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng, một số chính sách đã giúp cho du lịch Đà Nẵng phát triển đột phá trong việc hình thành sản phẩm du lịch đặc sắc, cũng như tăng trưởng vượt bậc về số lượng khách du lịch và tổng thu du lịch so với giai đoạn trước đây.
Du lịch Ninh Bình: Phát triển thương hiệu gắn với di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư
Theo Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, trong thời gian tới, tỉnh Ninh Bình sẽ định vị, phát triển thương hiệu du lịch gắn với hình ảnh, giá trị Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An, di tích lịch sử - văn hóa Cố đô Hoa Lư, hướng tới ngành du lịch xanh, bền vững.
Những kinh nghiệm phát triển của du lịch Ninh Bình
Trong những năm qua, du lịch Ninh Bình có nhiều khởi sắc. Tỉnh đã chuyển đổi các khu vực núi non, canh tác nông nghiệp khó khăn thành các khu vực phát triển du lịch, dần hình thành các điểm đến du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước.
Hoàn thuế cho du khách quốc tế mua hàng tại Việt Nam như thế nào?
Theo chuyên gia tư vấn thuế, việc hoàn thuế GTGT cho khách du lịch quốc tế mua hàng hóa tại Việt Nam, mang về nước khi xuất cảnh được thực hiện theo một số hình thức khác nhau, nhưng được phân theo 3 nhóm.


















