Công tác đào tạo nhân lực du lịch trong định hướng phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam (P.3)
Theo PGS, TS. Phạm Văn Lợi, Nhà nước (Tổng cục Du lịch, Sở VH,TT&DL các tỉnh, Phòng VH các huyện và cơ quan ngang huyện) với vai trò của mình, cần/ phải tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về lập kế hoạch, xây dựng định hướng hoạt động cho các gia đình, bản làng đã, đang và sẽ làm du lịch cộng đồng.
Lời giới thiệu: Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được quan tâm đầu tư phát triển tại nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn của Việt Nam tỏng những năm vừa qua.
Nhân lực dành cho du lịch cộng đồng hay nhân lực phát triển du lịch cộng đồng chủ yếu và cơ bản là nhân lực của cộng đồng, của các gia đình cư dân, nhà nước và các doanh nghiệp chỉ có thể định hướng, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực này mà không thể trực tiếp quản lý, kiểm soát,…
Sau đây chúng tôi xin trân trọng giới thiệu phần thứ 3 (phần cuối) bài viết "Vai trò quản lý của Nhà nước trong định hướng nguồn lực hỗ trợ công tác đào tạo nhân lực du lịch trong định hướng phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam" của PGS.TS Phạm Văn Lợi - Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐHQGHN.
Công tác đào tạo nhân lực du lịch trong định hướng phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam (P.1)
Công tác đào tạo nhân lực du lịch trong định hướng phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam (P.2)
Người dân bản Mạ (huyện Thường Xuân, Thanh Hóa) đã biết cách làm du lịch nhờ được tập huấn các kỹ năng phát triển du lịch cộng đồng. (Ảnh: Khiếu Tư/TTXVN).
3. Vai trò của nhà nước trong định hướng nguồn lực hỗ trợ công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho du lịch cộng đồng
Đầu tiên, với các cán bộ thuộc Phòng Văn hóa hoặc Phòng VH,TT&DL cấp huyện, được đề cập trong báo cáo của Sở VH,TT&DL tỉnh Đắc Nông kể trên, là nguồn lực hành chính nhà nước, ở địa phương, dường như không nằm trong phạm vi nội dung của bài viết này. Tuy nhiên, đây dường như cũng là tình trạng khá phổ biến ở các tỉnh, huyện, đặc biệt là các tỉnh, huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số nên bài viết cũng xin đề cập qua đôi chút. Thứ nhất, do là nguồn lực hành chính nhà nước nên nhà nước có quyền sắp xếp, điều chỉnh cho phù hợp. Tất nhiên, việc sắp xếp, điều chỉnh này phụ thuộc vào việc nhà nước có đủ số lượng cán bộ được đào tạo về du lịch hay không. Theo số liệu thống kê, vào thời điểm 18 tháng 9 năm 2020, Việt Nam có 707 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm: 78 thành phố thuộc tỉnh, 51 thị xã, 49 quận và 529 huyện[16] (số liệu được cung cấp bởi trang Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, nhưng cũng giúp chúng ta một cái nhìn toàn diện). Như vậy, để mỗi đơn vị cấp huyện này có một cán bộ được đào tạo về du lịch không phải là vấn đề quá khó khăn với hệ thống đào tạo đại học và trên đại học ở nước ta hiện nay.
Cụ thể, hiện nay ở Việt Nam có 2 trường Cao đằng đào tạo về du lịch: Cao đẳng du lịch Hà Nội và Cao đẳng nghề du lịch Sài Gòn, cùng rất nhiều khoa/ chuyên ngành du lịch, liên quan đến du lịch đang được đào tạo ở các trường, như Đại học Hà Nội với chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành; Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN, với 2 chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành và Quản trị khách sạn; Đại học Văn hóa Hà Nội với chuyên ngành Việt Nam học (nghiêng nhiều về du lịch); Viện Đại học mở với chuyên ngành Quản trị du lịch và Hướng dẫn du lịch; Đại học Kinh tế quốc dân với chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành; Đại học kinh tế tp HCM với chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành; Đại học tài chính - Marketing với chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành; Đại học Quốc tế Hồng Bàng với 2 chuyên ngành Quản trị khách sạn và Việt Nam học; Đại học Hoa Sen với 2 chuyên ngành Quản trị nhà hàng & dịch vụ ăn uống và Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành; Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và du lịch Sài Gòn. Đó là chưa kể tới các trường đại học cấp vùng và cấp tỉnh trên cả nước, rất nhiều trường có đào tạo về du lịch. Đặc biệt, gần đây nhất, ngành du lịch hoc thuộc Khoa Du lịch, trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN, đã được nhà nước cho phép đào tạo ở trình độ Tiến sĩ, có nghĩa là vào thời điểm hiện nay, du lịch với tư cách là một ngành khoa học đã được đào tạo đầy đủ ở các bậc học, từ Cao đẳng, Đại học, trên Đại học, cả Thạc sĩ và Tiến sĩ. Vấn đề chỉ là chủ trương, chính sách của nhà nước điều chỉnh về vấn đề này mà thôi.
Thứ hai, với nhân lực làm việc trực tiếp trong các điểm/ bản/ cơ sở du lịch cộng đồng trên cả nước, được đề cập trong hầu hết các báo cáo của các Sở VH; Sở VHTT hoặc Sở VH,TT&DL của 33 tỉnh kể trên, chủ yếu thuộc về các gia đình tham gia hoạt động trong lĩnh vực du lịch cộng đồng (homestay, bán hàng, hướng dẫn khách,…), không phải nhân lực hành chính nhà nước (cả trung ương và địa phương) nên nhà nước không thể quản lý, không trực tiếp điều chỉnh, sắp xếp được. Vì vậy, vai trò quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực này chỉ là định hướng nguồn lực hỗ trợ công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho phát triển du lịch cộng đồng mà thôi.
Hiểu rõ đặc điểm này của nhân lực làm việc trong du lịch cộng đồng, thời gian vừa qua nhà nước, thông qua Tổng cục Du lịch, các Sở, Phòng VH,TT&DL ở địa phương, đã triển khai, tổ chức khá nhiều lớp tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ cho các cá nhân, người lao động tham gia các hoạt động khác nhau thuộc du lịch cộng đồng. Cụ thể, trong báo cáo của Sở VH,TT&DL tỉnh Sơn La, phần III “Kết quả đạt được trong công tác phát triển du lịch cộng đồng”, mục 4 “Công tác hỗ trợ đảo tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch”, cho biết từ năm 2017 Sở đã phối hợp với nhiều cơ quan, đơn vị (Hiệp hội du lịch; UBND các huyện, thành phố; Trung tâm xúc tiến đầu tư tỉnh và các cơ sở đào tạo nghiệp vụ du lịch, trong đó có Trường Cao đẳng du lịch Hà Nội, mở nhiều lớp tập huấn, đào tạo cho hơn 1000 nhân lực phục vụ phát triển du lịch trong tỉnh, tại các huyện Vân Hồ, Mộc Châu và Mường La. Chuyên môn, nghiệp vụ được tập huấn, đào tạo, gồm nấu ăn, phòng cháy, chữa cháy, an toàn vệ sinh thực phẩm, thuyết minh du lịch, kỹ năng kỹ thuật số, văn nghệ, đón khách,…
Với tỉnh Đắc Nông, năm 2018, Sở đã tổ chức 2 lớp tập huấn Quản 1ý nhà nước về du lịch và chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch, có lồng ghép nội dung về du lịch cộng đồng cho hơn 110 học viên là nhân viên, chuyên viên của các Sở, ngành, địa phương và các chủ cơ sở, thành viên của các tổ chức kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh. Năm 2019, tỉnh tiếp tục tổ chức 2 lớp bồi dưỡng chuyên về nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch tại điểm và vấn đề tổ chức, quản lý, khai thác hoạt động du lịch cộng đồng cho hơn 120 học viên là các hướng dẫn viên, các chủ cơ sở kinh doanh du lịch, trong đó có một số học viên đại diện cho các thôn, bản được chọn thí điểm làm du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh. Năm 2020, Sở VH,TT&DL tỉnh dự định phối hợp với UBND hai huyện Krông No và Cu Jut xây dựng kế hoạch tổ chức các 1ớp tập huấn, hướng dẫn thực hành (cầm tay chỉ việc) cho các học viên là thành viên các tổ quản 1ý, tổ hướng dẫn,... trên địa bàn 2 huyện, nhằm trang bị kỹ năng và nâng cao kỹ năng, quy trình đón tiếp khách du lịch cộng đồng. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch covid 19 nên kế hoạch này chưa thực hiện trước thời điểm báo cáo, ngày 7/9/2020.
Với tỉnh Hà Giang, báo cáo của Sở khẳng định “Qua các năm triển khai, số lao động trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, các làng văn hóa du lịch cộng đồng trên địa bàn cơ bản được qua lớp đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn là 500 người” và “Năm 2020 phối hợp với UBND các huyện, thành phố rà soát, đăng ký nhu cầu tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ lễ tân buồng phòng, chế biến món ăn, pha chế đồ uống, kỹ năng phục vụ khách tại các làng văn hóa du lịch cộng đồng, nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch, tiếng anh giao tiếp, tổng số 13 lớp (Đối tượng các nhân viên, quản lý nhà hàng, khách sạn, các làng văn hóa du lịch cộng đồng)”. Báo cáo còn cho biết Sở VH,TT&DL tỉnh “Phối hợp với UBND huyện Mèo Vạc thực hiện kiểm tra, sát hạch cho các học viên tham gia khóa học hướng dẫn viên du lịch tại điểm năm 2020”.
Với tỉnh Sóc Trăng, báo cáo của Sở VH,TT&DL khẳng định “Nhằm xây dựng nguồn nhân lực du lịch cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng trong thời gian tới, Sở VH,TT&DL đã tổ chức 5 lớp bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ du lịch, kiến thức về du lịch cộng đồng, kỹ năng giao tiếp và các kỹ năng cơ bản về buồng, bàn, bếp, kỹ thuật chế biến các món ăn,… cho hơn 200 học viên tại các cụm du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh”. Mặc dù cách thành phố Hồ Chí Minh khá xa nhưng Sở VH,TT&DL tỉnh vẫn “quan tâm, tạo điều kiện cho các hộ dân tham gia phát triển du lịch cộng đồng tham gia các khóa tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về du lịch do Sở Du lịch thành phố Hồ Chí Minh và các đơn vị có liên quan tổ chức”.
Như vậy, có thể thấy, trước năm 2019, Sở VH,TT&DL Đắc Nông mới chủ yếu quan tâm tới việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ du lịch nói chung, có lồng ghép kiến thức về du lịch cộng đồng, cho cán bộ, nhân viên thuộc Sở và Phòng VH,TT các huyện, chủ các cơ sở kinh doanh du lịch; năm 2019 Sở tổ chức 2 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch tại điểm và tổ chức, quản lý, khai thác hoạt động du lịch cộng đồng, có đại diện các thôn, bàn được chọn thí điểm du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh. Năm 2020, Sở có kế hoạch tập trung đào tạo, bồi dưỡng trang bị kỹ năng và nâng cao kỹ năng, quy trình đón tiếp khách du lịch cộng đồng cho các thành viên tổ quản 1ý, tổ hướng dẫn phục vụ du khách trên địa bàn huyện, nhưng chưa thực hiện được trước khi hoàn thành báo cáo, do ảnh hưởng của dịch covid-19. Trong khi đó, các tỉnh Sơn La, Hà Giang và Sóc Trăng, nơi ít, nơi nhiều; nơi lâu nơi mới, nhưng về cơ bản đã triển khai tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho những người dân trực tiếp tham gia hoạt động du lịch cộng đồng.
Qua các báo cáo cũng có thể dễ dàng nhận thấy, cho đến thời điểm hiện nay (2020), Sở VH,TT&DL các tỉnh hầu hết mới quan tâm đến các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, như đón tiếp khách, vệ sinh buồng/ phòng, vấn đề ăn uống và vệ sinh thực phẩm, thuyết minh giao tiếp với khách, vấn đề an toàn cháy nổ, cách sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật,… hầu hết chưa quan tâm tới việc đào tạo, bồi dưỡng cho những người dân tham gia hoạt động du lịch cộng đồng các kiến thức, kỹ năng về xây dựng kế hoạch, định hướng phát triển du lịch (cho gia đình/ điểm/ bản); ít quan tâm tới những kiến thức về quản lý/ quản trị du lịch cộng đồng (cả về tài chính và nhân sự,…). Đây là những yếu điểm căn bản, bên cạnh các điểm yếu về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ du lịch mà các Sở VH,TT&DL đã quan tâm bồi dưỡng, đào tạo. Trong đó, về vấn đề quản lý, như trên đã liệt kê, tại 2 trường Cao đẳng du lịch/ nghề du lịch ở Hà Nội và tp. HCM và nhiều trường đại học khác đã, đang đào tạo các ngành quản trị những lĩnh vực khác nhau của du lịch, vấn đề chỉ là vận động để người dân tham gia học tập hoặc tổ chức các lớp bồi dưỡng đào tạo ngắn hạn cho người dân về những vấn đề này. Với các kỹ năng về xây dựng kế hoạch, định hướng phát triển du lịch thì có khó khăn hơn vì đây là vấn đề mang tính tổng hợp cao, từ thực tiễn đến lý luận và dường như chưa trường nào có chuyên ngành đào tạo chuyên sâu về vấn đề này.
Trong bài viết đã đề cập ở trên, TS Trần Hữu Sơn đã chỉ ra 3 nguyên nhân (điểm yếu) của du lịch cộng đồng ở Việt Nam làm cho du khách, đặc biệt là du khách quốc tế, chỉ đến một lần (tại một điểm), không muốn quay trở lại; làm cho số lượng khách du lịch (cả trong nước và quốc tế) đến với du lịch cộng đồng ở Việt Nam giảm sút đáng kể trong 5 năm trở lại đây (dù đã đạt kết quả khả quan trong 10-15 năm trước đó). Trong 3 nguyên nhân đó, nguyên nhân thứ nhất và thứ 2 chủ yếu thuộc về nhà nước - chính quyền địa phương, gồm phát triển du lịch cộng đồng ồ ạt và chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa du lịch cộng đồng và các ngành nghề khác; nguyên nhân thứ 3 có phần trách nhiệm của người dân, những người trực tiếp tham gia du lịch cộng đồng. Đó là “chưa nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch trên cơ sở bản sắc văn hóa dân tộc Thái - đây là nguyên nhân quan trọng nhất”. Cụ thể hơn, TS Trần Hữu Sơn viết “họ đều xây dựng mô hình du lịch cộng đồng na ná nhau, các sản phẩm du lịch cũng na na nhau”. Vì vậy, khách du lịch chỉ đến một lần, thậm chí chỉ cần đến một điểm cũng có thể biết được sản phẩm du lịch của cả vùng[17]. Do là bài viết tham gia Hội nghị Thái học nên TS Trần Hữu Sơn chỉ đề cập đến người Thái/ tộc người Thái và các điểm du lịch cộng đồng của người Thái, tập trung ở Tây Bắc, nhưng nhận định trên đúng với du lịch cộng đồng của cả các dân tộc khác, các vùng khác ở Việt Nam.
Vấn đề ở đây là sự dập khuôn hay học hỏi một cách đơn giản giữa các điểm du lịch (điểm sau học điểm trước; bản chưa phát triển học bản đã phát triển) hay sự thiếu sáng tạo trong xây dựng kế hoạch, định hướng phát triển du lịch cho từng điểm/ bản, từ các hộ gia đình cụ thể. Tình trạng phổ biến là những nơi/ điểm/ bản chưa phát triển du lịch cộng đồng sẽ tổ chức các đoàn tới tham quan, học hỏi tại những nơi/ điểm/ bản đã phát triển, nhất là những nơi đã đạt được những kết quả khả quan về lĩnh vực này. Từ trước đến nay phổ biến các đoàn đến tham quan, học tập người Thái bản Lác làm du lịch cộng đồng; gần đây người dân các tỉnh miền núi phía Bắc có xu hướng đến tham quan, học tập mô hình du lịch cộng đồng của gia đình Tráng A Chu, ở Hua Tát. Và, mục tiêu học hỏi thường thành công “một cách mĩ mãn”: những người, những nơi đi tham quan trở về cũng dọn dẹp, sửa sang nhà cửa, bản làng, xây dựng đội văn nghệ,… để đón khách du lịch, tương tự như nơi họ đã đến tham quan, học hỏi.
Vấn đề ở đây là nhà nước, cụ thể là Phòng Văn hóa, UBND huyện cần có định hướng đào tạo, bồi dưỡng cho người dân (không chi là các hộ gia đình, mà còn là lãnh đạo bản/ làng, xã) có sáng tạo trong việc xây dựng mô hình bản/ làng và hộ gia đình làm du lịch cộng đồng, dựa trên những điểm mạnh, điểm độc đáo của văn hóa cộng đồng và những nét nổi trội trong sinh thái cảnh quan môi trường, trong lịch sử, các di sản lịch sử, lịch sử-văn hóa còn được lữu giữ trên quê hương (thôn/ bản, xã). Có nghĩa là trên cái nền tảng chung của du lịch cộng đồng là cung cấp dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi, tham quan, trải nghiệm dựa trên văn hóa cộng đồng, tộc người và cảnh quan sinh thái, môi trường địa phương, nhưng phải tìm ra những hướng đi riêng, cho ra những sản phẩm khác biệt, không trùng lặp, dù là những bản/ làng của cùng một tộc người, trong một khu vực (tiểu vùng/ vùng). Thậm chí, sau một khoảng thời gian nhất định, các hộ gia đình, điểm/ bản du lịch cộng đồng còn phải tự làm mới mình (dù đã, đang thu hút khách) dựa trên vốn văn hóa, giá trị lịch sử, cảnh quan, sinh thái địa phương. Có như thế du lịch cộng đồng mới có thể thu hút được khách tham quan; khách du lịch mới bỏ thời gian, tiền bạc, công sức đến với các điểm du lịch cộng đồng khác nhau trong môt vùng/ tiểu vùng; thâm chí còn muốn quay trở lại các điểm du lịch cộng đồng nhiều lần; rủ thêm bạn bè, người thân cùng đi. Đây là việc làm khó nhưng cần phải làm, đặc biệt trên góc độ nhân lực. Nhà nước (Tổng cục Du lịch ở trung ương, Sở VH,TT&DL các tỉnh, Phòng VH các huyện và cơ quan ngang huyện) với vai trò của mình, cần/ phải tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về lập kế hoạch, xây dựng định hướng hoạt động cho các gia đình, bản làng đã, đang và sẽ làm du lịch cộng đồng.
Để tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về vấn đề này cần có những chuyên gia về văn hóa (đặc biệt là văn hóa tộc người), các chuyên gia về địa lý tự nhiên (và tất nhiên là các chuyên gia về du lịch/ du lịch cộng đồng). Các chuyên gia về văn hóa, văn hóa tộc người, có trách nhiệm giúp người dân thấy được bức tranh chung về văn hóa các tộc người trong khu vực (vùng, tiểu vùng), sự khác biệt về văn hóa trong từng tộc người, trong từng khu vực; giúp người học thấy được những điểm/ nét/ thành tố văn hóa nổi trội của gia đình mình, cộng đồng mình (điểm/ bản/ xã,…), có thể khai thác phục vụ phát triển du lịch cộng đồng mà không trùng lặp với nơi khác, điểm/ bản khác; Các chuyên gia về địa lý tự nhiên có trách nhiệm giúp người học thấy được những điểm chung, riêng về địa lý tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên trong khu vực (vùng, tiểu vùng); những yếu tố/ nét/ tài nguyên thiên nhiên đặc biệt, độc đáo tại điểm/ bản của người học, có thể khai thác phục vụ phát triển du lịch cộng đồng. Các chuyên gia này cũng có trách nhiệm hướng dẫn cho người học cách khai thác không những không dẫn đến suy giảm, hủy hoại tài nguyên văn hóa và tự nhiên mà còn góp phần bảo tồn, phát triển các nguồn tài nguyên quan trọng này, nhất là tài nguyên văn hóa/ nhân văn.
4. Kết luận
4.1. Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch do người dân/ các cộng đồng cư dân triển khai, làm chủ; dựa vào ưu thế của văn hóa cộng đồng, văn hóa tộc người và các điểm nổi trội của điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên xung quanh (trong khu vực); phục vụ khách du lịch từ ăn, nghỉ tới các hoạt động du lịch và các sản phẩm du lịch cụ thể. Nhà nước và các doanh nghiệp chỉ giữ vai trò định hướng, hỗ trợ, hợp tác với người dân trong quá trình làm du lịch; Nhân lực dành cho du lịch cộng đồng hay nhân lực phát triển du lịch cộng đồng chủ yếu và cơ bản là nhân lực của cộng đồng, của các gia đình cư dân, nhà nước và các doanh nghiệp chỉ có thể định hướng, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực này mà không thể trực tiếp quản lý, kiểm soát,…
4.2. Dù đã có manh nha từ những năm 60 của thế kỷ trước, nhưng du lịch cộng đồng chỉ thực sự phát triển ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI; du lịch cộng đồng đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ; đã hầu như phổ biến trên khắp các tỉnh, thành phố, từ đồng bằng cho đến trung du, miền núi; từ bắc vào nam. Tuy vậy, cho đến thời điểm hiện nay, sau trên 20 năm tồn tại, phát triển, nhân lực phục vụ phát triển du lịch cộng đồng vẫn chủ yếu là những người dân địa phương, chưa qua đào tạo. Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn ngắn ngày về chuyên môn, nghiệp vụ du lịch cho những người dân trực tiếp tham gia các hoạt động du lịch cộng đồng, nhưng vẫn chỉ như “muối bỏ bể (biển)”. Và, đặc biệt, các kỹ năng về xây dựng kế hoạch, định hướng phát triển du lịch, những kỹ năng mang tính tổng hợp cao, từ thực tiễn đến lý luận; chưa có trường, chưa có chuyên ngành đào tạo chuyên sâu, thì hầu như vẫn chưa được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng.
4.3. Để tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về vấn đề này cần có những chuyên gia về văn hóa (đặc biệt là văn hóa tộc người), các chuyên gia về địa lý tự nhiên (và tất nhiên là các chuyên gia về du lịch/ du lịch cộng đồng). Các chuyên gia này có trách nhiệm giúp người dân thấy được bức tranh toàn cảnh về văn hóa tộc người; về môi trường sinh thái, tài nguyên nhiên nhiên trong khu vực; sự giống và khác nhau về văn hóa; về tự nhiên giữa các cộng đồng, khu vực; giúp người dân thấy được những điểm/ nét/ thành tố văn hóa, tự nhiên độc đáo, nổi trội của gia đình mình, cộng đồng mình (điểm/ bản/ xã,…) có thể khai thác phục vụ phát triển du lịch cộng đồng mà không trùng lặp với nơi khác, điểm/ bản khác. Các chuyên gia này cũng có trách nhiệm hướng dẫn cho người học cách khai thác không những không dẫn đến suy giảm, hủy hoại tài nguyên văn hóa và tự nhiên mà còn góp phần bảo tồn, phát triển các nguồn tài nguyên quan trọng này, nhất là tài nguyên văn hóa/ nhân văn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đơn vị hành chính cấp huyện (Việt Nam), vi.wikipedia.org, truy cập ngày 9/12/2020.
2. Giới thiệu về xã Ngọc Chiến, triphunter.vn, Công ty cổ phần Triphunter, Địa chỉ: 107/15 Trương Định Phường 06, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh; Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0314230967 được cấp ngày 15/02/2017 bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp. Hồ Chí Minh, truy cập 8/12/2020.
3. Phạm Thị Mộng Hoa, Lâm Thị Mai Lan (2000), Du lịch với dân tộc thiểu số ở Sa Pa, Nxb Văn hóa Dân tộc”.
4. Hồng Minh (2019), “Tráng A Chu làm du lịch”, baodantoc.vn, đăng ngày 27/04/2019; truy cập ngày 10/12/2020.
5. Trần Hữu Sơn (2015), “Văn hóa người Thái với vấn đề phát triển du lịch cộng đồng ở Tây Bắc”, trong Cộng đồng Thái-Kadai Việt Nam-những vấn đề phát triển bền vững, Nxb Thế giới, tr. 514-522.
6. Lường Song Toàn (2017), “Du lịch cộng đồng góp phần phát triển kinh tế bền vững và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống dân tộc”, trong Phát huy vai trò, bản sắc cộng đồng các dân tộc Thái-Kadai trong hội nhập và phát triển bền vững, Nxb Thế giới, tr. 625-637.
7. Minh Thu (2020), “Mường La: Khai trương mô hình Du lịch cộng đồng xã Ngọc Chiến”, baosonla.org.vn, đăng ngày 7/7/2020; truy cập ngày 8/12/2020.
8. Lường Song Toàn (2017), “Du lịch cộng đồng góp phần phát triển kinh tế bền vững và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống dân tộc”, trong Phát huy vai trò, bản sắc cộng đồng các dân tộc Thái-Kadai trong HN&PTBV, Nxb Thế giới, tr. 632.
9. Bảo Trang (2019), “Tráng A Chu và giấc mơ làm giàu từ bản làng”, vovworld.vn, đăng ngày 9/9/2019; truy cập ngày 10/12/2020.
10. Thu Trang (2017), “Huyện Mai Châu: Quyết tâm chính trị tạo bứt phá phát triển du lịch cộng đồng”, baohoabinh.com.vn; đăng ngày 29/9/2017; truy cập ngày 08/12/2020.
11. “Vùng Đất Biệt Lập Chiềng Ân Chuyển Màu Lúa Chín”, mytour.vn, đặng 18/11/2015; truy cập 12/3/2020.
12. Lường Văn Yệu (2015), “Vấn đề phát triển du lịch cộng đồng dân tộc Thái huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La”, trong Cộng đồng Thái-Kadai Việt Nam-những vấn đề phát triển bền vững, Nxb Thế giới, tr. 569-574.
[1] Trần Hữu Sơn (2015), Văn hóa người Thái với vấn đề phát triển du lịch cộng đồng ở Tây Bắc”, trong Cộng đồng Thái-Kadai Việt Nam-những vấn đề phát triển bền vững, Nxb Thế giới, tr. 515.
[2] Phạm Thị Mộng Hoa, Lâm Thị Mai Lan (2000), Du lịch với dân tộc thiểu số ở Sa Pa, Nxb Văn hóa Dân tộc”.
[3] Lường Song Toàn (2017), “Du lịch cộng đồng góp phần phát triển kinh tế bền vững và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống dân tộc”, trong Phát huy vai trò, bản sắc cộng đồng các dân tộc Thái-Kadai trong HN&PTBV, Nxb Thế giới, tr. 631-632.
[4] Thu Trang (2017), “Huyện Mai Châu: Quyết tâm chính trị tạo bứt phá phát triển du lịch cộng đồng”, baohoabinh.com.vn; đăng ngày 29/9/2017; truy cập ngày 08/12/2020.
[5] Thu Trang (2017), “Huyện Mai Châu…”, bđd;
[6] PVS ông Hà Công Hồng, 47 tuổi, Trưởng bản, tháng 2/2017.
[7] Lường Văn Yệu (2015), “Vấn đề phát triển du lịch cộng đồng dân tộc Thái huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La”, trong Cộng đồng Thái-Kadai Việt Nam-những vấn đề phát triển bền vững, Nxb Thế giới, tr. 569.
[8] Minh Thu (2020), “Mường La: Khai trương mô hình Du lịch cộng đồng xã Ngọc Chiến”, baosonla.org.vn, đăng ngày 7/7/2020; truy cập ngày 8/12/2020.
[9] Vùng Đất Biệt Lập Chiềng Ân Chuyển Màu Lúa Chín, mytour.vn, đặng 18/11/2015; truy cập 12/3/2020.
[10] Giới thiệu về xã Ngọc Chiến, triphunter.vn, Công ty cổ phần Triphunter, Địa chỉ: 107/15 Trương Định Phường 06, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh; Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0314230967 được cấp ngày 15/02/2017 bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp. Hồ Chí Minh, truy cập 8/12/2020.
[11] Bảo Trang (2019), “Tráng A Chu và giấc mơ làm giàu từ bản làng”, vovworld.vn, đăng ngày 9/9/2019; truy cập ngày 10/12/2020.
[12] Hồng Minh (2019), “Tráng A Chu làm du lịch”, baodantoc.vn, đăng ngày 27/04/2019; truy cập ngày 10/12/2020.
[13] Lường Song Toàn (2017), “Du lịch cộng đồng góp phần phát triển kinh tế bền vững và bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống dân tộc”, trong Phát huy vai trò, bản sắc cộng đồng các dân tộc Thái-Kadai trong HN&PTBV, Nxb Thế giới, tr. 632.
[14] PVS ông Hà Công Hồng, Trưởng bản, 47 tuổi, tháng 2/2017.
[15] Bảo Trang (2019), “Tráng A Chu và giấc mơ làm giàu…”, bđd.
[16] Đơn vị hành chính cấp huyện (Việt Nam), vi.wikipedia.org, truy cập ngày 9/12/2020.[17] Trần Hữu Sơn (2015), Văn hóa người Thái… ,bđd, tr. 515-517.
Các địa điểm được du khách Việt yêu thích nhất cho mùa lễ hội năm 2022
Năm 2022 đánh dấu sự trở lại đầy hứa hẹn của những chuyến chu du dành cho những trái tim ưa xê dịch và đã sẵn sàng bước ra ngoài thế giới, tận hưởng tất cả những điều tuyệt vời nhất của mùa lễ hội năm nay.
'Luồng xanh' cho du lịch cất cánh: 'Covid-19 buộc tất cả phải chọn chuyển đổi số hay không tồn tại'
Tại diễn đàn “Luồng xanh” cho du lịch cất cánh – Chuyên đề II: Chuyển đổi số: Động lực phát triển bền vững", ông Hoàng Quang Phòng cho rằng Covid-19 làm cho ngành du lịch trải qua những ngày đau đớn và chính cơn "sóng thần" này đẩy tất cả buộc phải lựa chọn: chuyển đổi số hay là không tồn tại nữa”?
Ứng dụng công nghệ số trong phát triển du lịch Hà Nội
Trước ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, chuyển đổi số được các công ty du lịch triển khai mạnh mẽ hơn.
Tiềm năng du lịch to lớn và lời kêu gọi doanh nghiệp đến Kon Tum để viết lên thành công
Theo Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Nguyễn Văn Hùng, du lịch Kon Tum trên bản đồ Việt Nam vẫn đang là tờ giấy trắng và các doanh nghiệp hãy đến với Kon Tum để viết lên thành công của chính mình.
Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch hậu Covid-19
Trong khuôn khổ VITM Hà Nội 2022, Hiệp hội Du lịch Việt Nam đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo Khôi phục và phát triển nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh bình thường mới.
Năm định hướng phục hồi du lịch và những vấn đề cần phải giải quyết
Tại Diễn đàn "Phục hồi Du lịch Việt Nam, định hướng mới, hành động mới", bên cạnh 5 định hướng do Tổng cục trưởng Nguyễn Trùng Khánh đưa ra, các đại biểu cũng đã thảo luận về những vấn đề cấp bách để du lịch nhanh chóng phục hồi và phát triển.
Những vấn đề du lịch Việt Nam phải đối diện khi mở cửa
Tại buổi thảo luận với chủ đề "Việt Nam - Trải nghiệm trọn vẹn", các vấn đề về nguồn nhân lực, việc làm mới các sản phẩm du lịch cũng như bảo đảm an toàn cho du khách... đã được đem ra thảo luận, phân tích.
Đề nghị 5 điểm nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch
Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Đạo Cương cho hay Bộ chính thức phát động mở lại các hoạt động du lịch trên phạm vi cả nước và đề nghị 5 điểm đối vơi scác địa phương, các điểm đến, các doanh nghiệp nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch, đẩy nhanh tốc độ phục hồi du lịch trong điều kiện bình thường mới.
Mở cửa toàn diện du lịch: 'Trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch'
Đề cập tới quyết định mở cửa toàn diện du lịch của Chính phủ, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam Vũ Thế Bình cho rằng "trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch, phải chứng minh chính sách mở cửa là đúng đắn".
Giải pháp nào cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam?
Chuyển đổi số hoạt động du lịch theo hướng cung cấp đầy đủ thông tin và trải nghiệm trực tuyến cho khách du lịch trước khi thực hiện chuyến đi và trong khi thực hiện chuyến đi theo thời gian thực.
Cơ hội, thách thức cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam
Theo ông Nguyễn Huy Dũng, bên cạnh những cơ hội thì tư duy, nhận thức đối với xu hướng phát triển tất yếu của du lịch thông minh, chuyển đổi số du lịch chưa cao là một trong những thách thức...
Ngành tài chính đã hỗ trợ du lịch vượt khó như thế nào?
Bên cạnh những giải pháp về thuế, phí và lệ phí, ngành tài chính còn áp dụng giải pháp về chi ngân sách nhà nước và một số giải pháp khác nhằm hỗ trợ du lịch vượt khó do Covid-19.
Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam
Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam dự kiến chia 2 giai đoạn kèm theo các nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên cụ thể: mở lại du lịch nội địa và du lịch quốc tế; phục hồi và phát triển đạt mức trước dịch.
5 đề xuất lớn để du lịch Đà Nẵng sớm phục hồi trong bối cảnh mới
Theo ông Lê Trung Chinh, để tạo điều kiện thuận lợi giúp du lịch Đà Nẵng nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung sớm phục hồi và phát triển trong bối cảnh mới, thành phố này có đề xuất một số nội dung giải pháp, chính sách thu hút đầu tư, phát triển du lịch.
Du lịch Đà Nẵng và những biện pháp để phục hồi trước ảnh hưởng do Covid-19
Với việc chuẩn bị để có tên trong 5 điểm đến thí điểm đầu tiên trong việc đón khách du lịch quốc tế, Đà Nẵng đã thể hiện mong muốn mạnh mẽ từng bước khôi phục hoạt động du lịch trong nước và quốc tế
Những chính sách đã từng giúp du lịch Đà Nẵng có bước phát triển đột phá
Theo vị Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng, một số chính sách đã giúp cho du lịch Đà Nẵng phát triển đột phá trong việc hình thành sản phẩm du lịch đặc sắc, cũng như tăng trưởng vượt bậc về số lượng khách du lịch và tổng thu du lịch so với giai đoạn trước đây.
Du lịch Ninh Bình: Phát triển thương hiệu gắn với di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư
Theo Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, trong thời gian tới, tỉnh Ninh Bình sẽ định vị, phát triển thương hiệu du lịch gắn với hình ảnh, giá trị Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An, di tích lịch sử - văn hóa Cố đô Hoa Lư, hướng tới ngành du lịch xanh, bền vững.
Những kinh nghiệm phát triển của du lịch Ninh Bình
Trong những năm qua, du lịch Ninh Bình có nhiều khởi sắc. Tỉnh đã chuyển đổi các khu vực núi non, canh tác nông nghiệp khó khăn thành các khu vực phát triển du lịch, dần hình thành các điểm đến du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước.
Hoàn thuế cho du khách quốc tế mua hàng tại Việt Nam như thế nào?
Theo chuyên gia tư vấn thuế, việc hoàn thuế GTGT cho khách du lịch quốc tế mua hàng hóa tại Việt Nam, mang về nước khi xuất cảnh được thực hiện theo một số hình thức khác nhau, nhưng được phân theo 3 nhóm.


















