Nghiên cứu phát triển giá trị văn hóa trong tín ngưỡng dân gian và lễ hội
Chúng ta cần nhìn nhận tín ngưỡng dân gian và lễ hội truyền thống như là một bộ phận cấu thành quan trọng của kho tàng di sản văn hóa Việt Nam từ đó có định hướng phát triển hợp lý.
Lễ hội truyền thống có vai trò không hề nhỏ trong đời sống xã hội, có khả năng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của đông đảo công chúng, đồng thời có tác động tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội - chính trị của đất nước. Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử và cũng là hiện tượng văn hóa xã hội có mặt ở Việt Nam từ lâu đời, hiện đang thực sự tồn tại và vận hành theo chiều hướng bùng phát tăng lên về số lượng, thu hút nhiều người tham gia, nhưng lại đang có chiều hướng phát triển ồ ạt và thiếu tính tổ chức/tính chuyên nghiệp. Do đó, vấn đề tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống càng trở nên phức tạp và mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết.
Lễ hội truyền thống thờ Đức Thánh Minh Đại Vương. Ảnh: bestprice.vn
Thời gian qua, dư luận xã hội, các cơ quan thông tấn báo chí đã đăng tải nhiều về vấn đề tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống, tập trung nhiều vào các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, mà không phản ánh các giá trị di sản văn hóa đặc sắc liên quan đến lễ hội, cũng như những nét đẹp văn hóa truyền thống trong lễ hội. Điều đó chưa phù hợp với tính định hướng của các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa là: “xây đi đối với chống” mà xây dựng là chủ đạo, phê bình đi đôi với động viên, khuyến khích. Chỉ như thế, chúng ta mới huy động được mọi nguồn lực xã hội cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa. Mặt khác, có thể xã hội chưa có cách tiếp cận toàn diện và liên ngành đối với di sản văn hóa nói chung và lễ hội truyền thống nói riêng hoặc chưa xem xét hết các nguyên nhân dẫn đến những vấn đề phức tạp trong việc tổ chức và quản lý lễ hội như TS. Bùi Hoài Sơn trong cuốn sách Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt đã nhận xét: “Những vấn đề đang đặt ra cho việc tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống ngày hôm nay có thể phát sinh do những bối cảnh xã hội hiện thời, có thể phát sinh từ bản chất vốn có của lễ hội truyền thống, cũng có thể phát sinh do những quyết định quản lý để lại qua thời gian”.
Từ quan điểm nêu trên, tác giả muốn trao đổi về vấn đề giá trị văn hóa trong hoạt động tín ngưỡng dân gian và hoạt động lễ hội truyền thống.
Tín ngưỡng dân gian là biểu hiện sinh động của sắc thái văn hóa vùng miền và bản sắc văn hóa dân tộc
Từ xa xưa, người Việt đã có niềm tin mãnh liệt và sự thành kính thiêng liêng đối với thần thánh hay các lực luợng siêu nhiên, tin vào cuộc sống sau khi chết và tin rằng tổ tiên, dòng họ cũng là lực lượng bảo trợ tinh thần cho người đang sống. Tín ngưỡng dân gian thường có những đặc điểm chung: niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên; tính thiêng liêng cao cả; sự tôn vinh xen lẫn sợ hãi; là mối quan hệ tương tác giữa con người và thần thánh, thái độ của con người với tự nhiên; tình thương yêu con người và đồng loại.
Đề cập tới tín ngưỡng dân gian, bao giờ người ta cũng nhấn mạnh tới giá trị nhân văn, đặc biệt là yếu tố văn hóa đạo đức trong tín ngưỡng dân gian có giá trị đặc thù nhằm củng cố, bảo vệ đức tin thiêng liêng trong cộng đồng, đồng thời cũng chứa đựng những chuẩn mực đạo đức, mang tính nhân loại. Đó là tình thương đồng loại, hướng thiện, ngừa ác…
Toàn cảnh chùa Bái Đính. Ảnh: bestprice.vn
Tín ngưỡng dân gian có khả năng đáp ứng được những nhu cầu về mặt tinh thần, tâm linh của các tầng lớp cư dân trong xã hội: nhu cầu được an ủi, chia sẻ, xoa dịu nỗi đau thương, mất mát nơi trần thế; ước mơ có điểm tựa tinh thần để đối mặt với những thách thức, rủi ro từ thiên nhiên và xã hội; là “chất keo gắn kết cộng đồng”, “năng lượng tinh thần”, khuyến khích con người hướng thiện, vươn tới chân - thiện - mỹ, ba trụ cột quan trọng của văn hóa. Đó là nền tảng của tính nhân văn của nhân loại.
Để thực hành tín ngưỡng, để củng cố, duy trì và trao truyền đức tin tôn giáo, tín ngưỡng cũng như các giá trị văn hóa đạo đức, con người đã sáng tạo ra hai loại hình di sản văn hóa là:
Chùa Hương là cả một quần thể văn hóa rộng lớn với rất nhiều chùa, đền đình khác nhau. viettravel.com
Di sản văn hóa vật thể/các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng (đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ, lăng mộ…) là không gian văn hóa -tâm linh mang tính thiêng liêng quy tụ lòng người.
Di sản văn hóa phi vật thể/lễ hội văn hóa truyền thống, nghi thức thờ cúng, các loại lễ vật dâng cúng trong các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng, các phong tục, tập quán địa phương, các kho tàng huyền thoại, truyền thuyết, thần phả, sắc phong.
Các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng thường là một hợp thể giữa kiến trúc và thiên nhiên, hàm chứa các giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học được tạo dựng ở những vùng địa linh theo đúng các nguyên tắc phong thủy; có không gian kiến trúc nội thất dày đặc các mảng chạm khắc gỗ trang trí trên các chi tiết kiến trúc và hệ thống đồ thờ cúng (nhang án, bát bửu, tượng thờ) được coi như là một “bảo tàng” sống động về mỹ thuật dân gian.
Có thể khẳng định, tín ngưỡng dân gian và các thiết chế văn hóa gắn với nó là một bộ phận di sản văn hóa của Việt Nam. Bằng chứng xác đáng là, đến nay đã có 2.260 thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng trong đó có quần thể di tích-danh thắng núi Sam, Châu Đốc, An Giang đã được xếp hạng là di tích quốc gia, trên tổng số 3.173 di tích của cả nước. Đó là một tỷ trọng khá lớn mà chúng ta cần quan tâm xem xét để có giải pháp xử lý thỏa đáng.
Lễ hội truyền thống là môi trường văn hóa hay là “thứ dung môi đặc biệt” cho tín ngưỡng dân gian được thực hành trong đời sống xã hội
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam (NXB Hà Nội năm 2002, tr. 674), lễ hội được định nghĩa “là một hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện”. Nhiều người quan niệm rằng lễ hội là “môi trường diễn xướng dân gian”, là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Về bản chất, đây là hoạt động của nhiều người/tập thể có cùng một đức tin, có mục tiêu chung, khát vọng và mong ước giống nhau và do đó, có thể thống nhất với nhau trong hàng loạt các hành vi cũng như hoạt động chung.
Nhiều du khách thập phương đã tìm đến hội Lim để được sống trong một không gian văn hóa Việt. Ảnh: kiunguyen
Do có một niềm tin, có mục tiêu chung, lại được củng cố bằng những hoạt động tập thể qua nhiều chu kỳ lễ hội, kéo dài suốt quá trình phát triển của cộng đồng, cho nên lễ hội góp phần tạo lập ra văn hóa cộng đồng. Theo Phạm Tung, “văn hóa cộng đồng là văn hóa ứng xử của một cộng đồng trong những môi trường, không gian và thời gian lịch sử xác định”. Trong văn hóa cộng đồng, ta nhìn thấy được sự đồng thuận của một nhóm cá thể, một tập thể lớn trong nhiều mặt đời sống: đồng thuận/tự giác chấp thuận và thực hiện các quy tắc chung về nhận thức, sứ mạng, mục tiêu phát triển cộng đồng; đồng thuận về lợi ích, cách thức giải quyết hài hòa lợi ích giữa cá nhân với tập thể, bộ phận với toàn thể; đồng thuận trong việc giữ gìn hình ảnh, uy tín của cộng đồng; đồng thuận để xây dựng và giữ gìn tình cảm gắn kết cộng đồng để cùng nỗ lực đương đầu với thách thức và rủi ro.
Lễ hội truyền thống là môi trường đào luyện nhân cách và trao truyền văn hóa, hay nói một cách khác lễ hội truyền thống là nơi khởi nguồn, bồi đắp, duy trì và lan tỏa các giá trị văn hóa. Lễ hội truyền thống không chỉ là không gian văn hóa - tâm linh, mà còn là cơ hội để các thành viên cộng đồng giao lưu, đối thoại với nhau, đặc biệt quan trọng là cơ hội tiếp cận, đối thoại với thần linh/vị thần được gửi gắm, nương tựa về mặt tinh thần cho cả cộng đồng.
Điều cốt lõi làm nên lễ hội truyền thống là hạt nhân tâm linh/đối tượng được tôn thờ một cách thành kính và thiêng liêng. Chính sự thành kính và thiêng liêng đã tạo ra biểu tượng văn hóa cho mỗi lễ hội. Có thể dẫn ra đây một số biểu tượng văn hóa tiêu biểu nhất trong đời sống tâm linh của người Việt:
Tản Viên Sơn Thánh biểu tượng cho sức mạnh cộng đồng trong việc thích ứng với thách thức của tự nhiên (bão lụt, hạn hán...) và khát vọng có vụ mùa bội thu.
Thánh Gióng biểu tượng cho sức mạnh của cộng đồng trong việc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập, tự chủ của quốc gia dân tộc.
Thánh Chử Đồng Tử biểu tượng cho khát vọng có được cuộc sống phồn thịnh trong một xã hội khoan hòa.
Mẫu Liễu Hạnh biểu tượng cho bà mẹ xứ sở và ước vọng cho một cuộc sống gia đình hạnh phúc.
Quốc tổ Hùng Vương biểu tượng cho ý thức về cội nguồn dân tộc, ý thức độc lập của cộng đồng quốc gia dân tộc.
Từ cách lý giải của GS.TS. Ngô Đức Thịnh về biểu tượng văn hóa trong tín ngưỡng và lễ hội truyền thống các thiết chế văn hóa thờ Tứ bất tử, có thể tạm phác ra một số đặc trưng cơ bản của biểu tượng văn hóa trong đời sống xã hội:
Biểu tượng mang tính thiêng liêng thể hiện niềm tin, mục đích và khát vọng mà cộng đồng muốn đạt được nhờ vào trợ lực của thần thánh cũng như ý chí muốn thực hiện khát vọng đó.
Biểu tượng do cộng đồng sáng tạo ra nhưng lại có sức mạnh tác động vào chủ thể, để họ đồng thuận thừa nhận và tự giác tuân thủ các giá trị chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán.
Biểu tượng với tư cách là thứ ngôn ngữ hàm chứa thông tin đa nghĩa, cho phép các cá nhân có thể độc lập nhận thức và lý giải theo cách riêng của mình nên có sức lan tỏa rộng.
Biểu tượng có khả năng đưa tới sự thống nhất nhận thức, nên có tác động liên kết cộng đồng và liên kết cộng đồng trong quốc gia dân tộc.
Các biểu tượng văn hóa thiêng liêng như thế là thứ “năng lượng tinh thần” đặc sắc mà nhiều thế hệ người Việt Nam đã dày công vun đắp, tạo nên sức mạnh để thực hiện thành công sự nghiệp dựng nước và giữ nước từ thời đại Hùng Vương đến hôm nay.
Như vậy, chúng ta cần nhìn nhận tín ngưỡng dân gian và lễ hội truyền thống như là một bộ phận cấu thành quan trọng của kho tàng di sản văn hóa Việt Nam.
Các địa điểm được du khách Việt yêu thích nhất cho mùa lễ hội năm 2022
Năm 2022 đánh dấu sự trở lại đầy hứa hẹn của những chuyến chu du dành cho những trái tim ưa xê dịch và đã sẵn sàng bước ra ngoài thế giới, tận hưởng tất cả những điều tuyệt vời nhất của mùa lễ hội năm nay.
'Luồng xanh' cho du lịch cất cánh: 'Covid-19 buộc tất cả phải chọn chuyển đổi số hay không tồn tại'
Tại diễn đàn “Luồng xanh” cho du lịch cất cánh – Chuyên đề II: Chuyển đổi số: Động lực phát triển bền vững", ông Hoàng Quang Phòng cho rằng Covid-19 làm cho ngành du lịch trải qua những ngày đau đớn và chính cơn "sóng thần" này đẩy tất cả buộc phải lựa chọn: chuyển đổi số hay là không tồn tại nữa”?
Ứng dụng công nghệ số trong phát triển du lịch Hà Nội
Trước ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, chuyển đổi số được các công ty du lịch triển khai mạnh mẽ hơn.
Tiềm năng du lịch to lớn và lời kêu gọi doanh nghiệp đến Kon Tum để viết lên thành công
Theo Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Nguyễn Văn Hùng, du lịch Kon Tum trên bản đồ Việt Nam vẫn đang là tờ giấy trắng và các doanh nghiệp hãy đến với Kon Tum để viết lên thành công của chính mình.
Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch hậu Covid-19
Trong khuôn khổ VITM Hà Nội 2022, Hiệp hội Du lịch Việt Nam đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo Khôi phục và phát triển nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh bình thường mới.
Năm định hướng phục hồi du lịch và những vấn đề cần phải giải quyết
Tại Diễn đàn "Phục hồi Du lịch Việt Nam, định hướng mới, hành động mới", bên cạnh 5 định hướng do Tổng cục trưởng Nguyễn Trùng Khánh đưa ra, các đại biểu cũng đã thảo luận về những vấn đề cấp bách để du lịch nhanh chóng phục hồi và phát triển.
Những vấn đề du lịch Việt Nam phải đối diện khi mở cửa
Tại buổi thảo luận với chủ đề "Việt Nam - Trải nghiệm trọn vẹn", các vấn đề về nguồn nhân lực, việc làm mới các sản phẩm du lịch cũng như bảo đảm an toàn cho du khách... đã được đem ra thảo luận, phân tích.
Đề nghị 5 điểm nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch
Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Đạo Cương cho hay Bộ chính thức phát động mở lại các hoạt động du lịch trên phạm vi cả nước và đề nghị 5 điểm đối vơi scác địa phương, các điểm đến, các doanh nghiệp nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch, đẩy nhanh tốc độ phục hồi du lịch trong điều kiện bình thường mới.
Mở cửa toàn diện du lịch: 'Trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch'
Đề cập tới quyết định mở cửa toàn diện du lịch của Chính phủ, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam Vũ Thế Bình cho rằng "trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch, phải chứng minh chính sách mở cửa là đúng đắn".
Giải pháp nào cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam?
Chuyển đổi số hoạt động du lịch theo hướng cung cấp đầy đủ thông tin và trải nghiệm trực tuyến cho khách du lịch trước khi thực hiện chuyến đi và trong khi thực hiện chuyến đi theo thời gian thực.
Cơ hội, thách thức cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam
Theo ông Nguyễn Huy Dũng, bên cạnh những cơ hội thì tư duy, nhận thức đối với xu hướng phát triển tất yếu của du lịch thông minh, chuyển đổi số du lịch chưa cao là một trong những thách thức...
Ngành tài chính đã hỗ trợ du lịch vượt khó như thế nào?
Bên cạnh những giải pháp về thuế, phí và lệ phí, ngành tài chính còn áp dụng giải pháp về chi ngân sách nhà nước và một số giải pháp khác nhằm hỗ trợ du lịch vượt khó do Covid-19.
Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam
Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam dự kiến chia 2 giai đoạn kèm theo các nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên cụ thể: mở lại du lịch nội địa và du lịch quốc tế; phục hồi và phát triển đạt mức trước dịch.
5 đề xuất lớn để du lịch Đà Nẵng sớm phục hồi trong bối cảnh mới
Theo ông Lê Trung Chinh, để tạo điều kiện thuận lợi giúp du lịch Đà Nẵng nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung sớm phục hồi và phát triển trong bối cảnh mới, thành phố này có đề xuất một số nội dung giải pháp, chính sách thu hút đầu tư, phát triển du lịch.
Du lịch Đà Nẵng và những biện pháp để phục hồi trước ảnh hưởng do Covid-19
Với việc chuẩn bị để có tên trong 5 điểm đến thí điểm đầu tiên trong việc đón khách du lịch quốc tế, Đà Nẵng đã thể hiện mong muốn mạnh mẽ từng bước khôi phục hoạt động du lịch trong nước và quốc tế
Những chính sách đã từng giúp du lịch Đà Nẵng có bước phát triển đột phá
Theo vị Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng, một số chính sách đã giúp cho du lịch Đà Nẵng phát triển đột phá trong việc hình thành sản phẩm du lịch đặc sắc, cũng như tăng trưởng vượt bậc về số lượng khách du lịch và tổng thu du lịch so với giai đoạn trước đây.
Du lịch Ninh Bình: Phát triển thương hiệu gắn với di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư
Theo Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, trong thời gian tới, tỉnh Ninh Bình sẽ định vị, phát triển thương hiệu du lịch gắn với hình ảnh, giá trị Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An, di tích lịch sử - văn hóa Cố đô Hoa Lư, hướng tới ngành du lịch xanh, bền vững.
Những kinh nghiệm phát triển của du lịch Ninh Bình
Trong những năm qua, du lịch Ninh Bình có nhiều khởi sắc. Tỉnh đã chuyển đổi các khu vực núi non, canh tác nông nghiệp khó khăn thành các khu vực phát triển du lịch, dần hình thành các điểm đến du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước.
Hoàn thuế cho du khách quốc tế mua hàng tại Việt Nam như thế nào?
Theo chuyên gia tư vấn thuế, việc hoàn thuế GTGT cho khách du lịch quốc tế mua hàng hóa tại Việt Nam, mang về nước khi xuất cảnh được thực hiện theo một số hình thức khác nhau, nhưng được phân theo 3 nhóm.


















