Nhựa ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe con người và động vật?
Cơ thể con người và các loài sinh vật sẽ thế nào nếu tiếp xúc, tiêu thụ nhựa trong khoảng thời gian dài, đây là câu hỏi được con người và nhiều nhà khoa học quan tâm.
Đã có nhiều bằng chứng được ghi nhận về tác động của nhựa đối với hệ sinh thái và động vật hoang dã. Các ấn phẩm được đánh giá ngang hàng về tác động nhựa có từ những năm 1980.
Nhựa tác động đến động vật hoang dã và sức khỏe con người như thế nào?
Một phân tích của Rochman et al. (năm 2016) cho thấy các phát hiện của tài liệu được đánh giá ngang hàng về tác động của mảnh vụn nhựa biển đối với đời sống động vật. Tuy nhiên, mặc dù có nhiều trường hợp được ghi nhận, người ta vẫn cho rằng mức độ ảnh hưởng đầy đủ đến các hệ sinh thái vẫn chưa được biết đến.

Có ba con đường chính mà các mảnh vụn nhựa có thể ảnh hưởng đến động vật hoang dã:
Sự vướng víu
Nhựa cuốn vào, bao vây hoặc siết chặt các động vật trên biển. Cho đến nay, đã có báo cáo cho ít nhất 344 loài, bao gồm tất cả các loài rùa biển, hơn 2/3 loài hải cẩu, 1/3 loài cá voi và 1/4 loài chim biển. Sự xâm hại của 89 loài cá và 92 loài động vật không xương sống cũng đã được ghi nhận.
Các loại vướng mắc thường gặp nhất ở biển là dây nhựa, lưới và ngư cụ bị bỏ rơi. Tuy nhiên, sự vướng víu của các loại nhựa khác như bao bì cũng đã được ghi nhận.
Nuốt phải
Việc nuốt phải nhựa có thể xảy ra vô tình, cố ý hoặc gián tiếp thông qua việc ăn phải các loài săn mồi có chứa nhựa.
Nó đã được ghi nhận về ít nhất 233 loài sinh vật biển, bao gồm tất cả các loài rùa biển, hơn một phần ba số loài hải cẩu, 59% loài cá voi và 59% loài chim biển. Sự nuốt phải nhựa của 92 loài cá và 6 loài động vật không xương sống cũng đã được ghi nhận.

Kích thước của vật liệu ăn vào cuối cùng bị giới hạn bởi kích thước của sinh vật. Các phần tử rất nhỏ như sợi nhựa có thể bị các sinh vật nhỏ như hàu hoặc trai hấp thụ vào cơ thể. Các vật liệu lớn hơn như màng nhựa, bao thuốc lá, bao bì thực phẩm đã được tìm thấy ở các loài cá lớn. Trong những trường cực đoan, các trường hợp cá nhà táng được ghi nhận đã cho thấy chúng ăn phải những vật liệu rất lớn bao gồm 9m dây thừng, 4,5m vòi, hai chậu hoa và một lượng lớn tấm nhựa.
Ăn phải nhựa có thể gây nhiều tác động xấu đến sức khỏe sinh vật. Một khối lượng lớn nhựa có thể làm giảm đáng kể sức chứa của dạ dày, dẫn đến cảm giác thèm ăn và cảm giác no sai. Chất dẻo cũng có thể làm tắc nghẽn hoặc thủng ruột, gây tổn thương loét hoặc vỡ dạ dày. Điều này cuối cùng có thể dẫn đến tử vong.
Trong môi trường phòng thí nghiệm, các phản ứng sinh hóa đối với việc ăn phải nhựa cũng đã được quan sát thấy. Những phản ứng này bao gồm stress oxy hóa, gián đoạn trao đổi chất, giảm hoạt động của enzym và hoại tử tế bào.

Tương tác
Tương tác bao gồm va chạm, vật cản, mài mòn hoặc sử dụng làm chất nền của nhựa đối với các loài sinh vật biển.
Có nhiều tình huống có thể có tác động đến sinh vật. Ví dụ, ngư cụ đã được chứng minh là có thể gây mài mòn và phá hủy hệ sinh thái rạn san hô khi va chạm. Cấu trúc hệ sinh thái cũng có thể bị tác động bởi chất dẻo sau sự can thiệp của chất nền với chất dẻo (tác động đến sự xâm nhập của ánh sáng, sự sẵn có của chất hữu cơ và sự trao đổi oxy).
Tác động của vi nhựa đối với sức khỏe là gì?
Tác động của vi nhựa đối với động vật hoang dã
Như đã thảo luận trong phần 'Tác động đến động vật hoang dã' ở trên, có một số cách mà nhựa có thể tương tác hoặc ảnh hưởng đến động vật hoang dã. Trong trường hợp vi nhựa (các hạt có đường kính nhỏ hơn 4,75 mm), mối quan tâm chính là nuốt phải.
Việc ăn phải vi nhựa đã được chứng minh là có thể xảy ra đối với nhiều sinh vật. Điều này có thể xảy ra thông qua một số cơ chế, từ việc hấp thụ bởi bộ lọc, nuốt nước xung quanh hoặc tiêu thụ các sinh vật đã ăn vi nhựa trước đây.

Có một số tác động tiềm ẩn của vi nhựa ở các cấp độ sinh học khác nhau, từ tế bào con đến hệ sinh thái, nhưng hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào tác động ở từng sinh vật trưởng thành.
Ăn phải vi nhựa hiếm khi gây tử vong ở bất kỳ sinh vật nào. Do đó, các giá trị 'nồng độ gây chết người' (LC) thường được đo lường và báo cáo về các chất gây ô nhiễm không tồn tại. Có một vài trường hợp ngoại lệ: cá bống thường tiếp xúc với polyethylene và pyrene; Vẹm xanh châu Á tiếp xúc với polyvinylclorua (PVC); và trẻ sơ sinh Daphnia magna tiếp xúc với polyethylene.
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu như vậy, nồng độ và mức độ tiếp xúc với vi nhựa vượt xa mức có thể gặp trong môi trường tự nhiên (thậm chí là môi trường bị ô nhiễm nặng).
Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy việc ăn phải vi nhựa có thể ảnh hưởng đến việc tiêu thụ con mồi, dẫn đến cạn kiệt năng lượng, ảnh hưởng đến tăng trưởng và khả năng sinh sản bị ức chế. Khi sinh vật ăn phải vi nhựa, nó có thể chiếm không gian trong ruột và hệ tiêu hóa, dẫn đến giảm tín hiệu ăn. Cảm giác no này có thể làm giảm lượng ăn vào. Bằng chứng về tác động của việc giảm tiêu thụ thực phẩm bao gồm:
- Tỷ lệ trao đổi chất chậm hơn và tỷ lệ sống ở vẹm xanh Châu Á
- Giảm khả năng sinh sản và khả năng sống sót ở các loài chân quỳ
- Giảm sinh trưởng và phát triển của Daphnia (động vật giáp xác)
- Giảm sự tăng trưởng và phát triển của tôm hùm
- Giảm dự trữ năng lượng ở cua biển và giun tròn
Nhiều sinh vật không có những biểu hiện thay đổi sau khi ăn phải vi nhựa. Một số sinh vật, bao gồm cả động vật ăn hỗn dịch (ví dụ như ấu trùng hàu, ấu trùng nhím, hàu dẹt châu Âu, hàu Thái Bình Dương) và động vật không xương sống ăn thịt (ví dụ: động vật chân không, động vật chân cụt) không bị ảnh hưởng bởi vi nhựa. Tuy nhiên, về tổng thể, có khả năng là đối với một số sinh vật, sự hiện diện của các hạt vi nhựa trong ruột (nơi cần có thức ăn) có thể gây ra các tác động sinh học tiêu cực.

Tác động của vi nhựa đối với con người
Hiện tại, có rất ít bằng chứng về tác động mà vi nhựa có thể gây ra đối với con người.
Đối với sức khỏe con người, những hạt nhỏ nhất - hạt vi mô và nano đủ nhỏ để có thể ăn vào - mới là mối quan tâm lớn nhất. Có một số cách mà các hạt nhựa có thể được ăn vào: bằng miệng qua nước, tiêu thụ các sản phẩm biển có chứa vi nhựa, qua da qua mỹ phẩm (được xác định là rất khó xảy ra nhưng có thể xảy ra) hoặc hít phải các hạt trong không khí.
Vi nhựa có thể được chuyển lên các cấp cao hơn trong chuỗi thức ăn. Điều này có thể xảy ra khi một loài tiêu thụ các sinh vật ở cấp độ thấp hơn trong chuỗi thức ăn có vi nhựa trong ruột hoặc mô. Sự hiện diện của vi nhựa ở các cấp cao hơn của chuỗi thức ăn (ở cá) đã được ghi nhận.
Một yếu tố có thể hạn chế sự hấp thụ trong chế độ ăn của con người là vi nhựa trong cá có xu hướng hiện diện trong ruột và đường tiêu hóa, những bộ phận của cá thường không được ăn. Sự hiện diện của vi nhựa trong cá ngoài đường tiêu hóa (ví dụ như trong mô) vẫn đang được nghiên cứu chi tiết. Chất dẻo siêu nhỏ và nano trong động vật hai mảnh vỏ (trai và hàu) được nuôi để làm thức ăn cho người cũng đã được xác định. Tuy nhiên, cả sự phơi nhiễm của con người cũng như nguy cơ tiềm ẩn đều chưa được xác định hoặc định lượng.

Sợi nhựa cũng đã được phát hiện trong các mặt hàng thực phẩm khác; ví dụ như mật ong, bia và muối ăn. Nhưng các tác giả đề xuất những rủi ro sức khỏe không đáng kể do tiếp xúc này.
Mức độ ăn phải vi nhựa hiện chưa được xác định. Người ta còn biết ít hơn về cách các hạt như vậy tương tác trong cơ thể. Có thể xảy ra trường hợp vi nhựa chỉ đơn giản là đi thẳng qua đường tiêu hóa mà không có tác động hoặc tương tác. Ví dụ, một nghiên cứu về cá Biển Bắc cho thấy 80% cá có vi nhựa được phát hiện chỉ chứa một hạt, điều này cho thấy rằng sau khi ăn phải, nhựa không tồn tại trong thời gian dài.
Điều gì có thể gây ra lo ngại về tác động của vi nhựa?
Ba tác động độc hại có thể xảy ra của hạt nhựa đã được đề xuất: bản thân các hạt nhựa, giải phóng chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hấp thụ vào nhựa và rửa trôi các chất phụ gia nhựa.
Cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng về tác động có hại. Tuy nhiên, nguyên tắc phòng ngừa sẽ chỉ ra rằng đây không phải là bằng chứng chống lại việc tiếp xúc một cách nghiêm túc.

Vì vi nhựa kỵ nước (không hòa tan) và có tỷ lệ diện tích bề mặt trên thể tích cao, chúng có thể hấp thụ các chất gây ô nhiễm môi trường. Nếu có sự tích tụ đáng kể của các chất gây ô nhiễm môi trường, thì có khả năng nồng độ này có thể 'phân hủy sinh học' trong chuỗi thức ăn lên mức cao hơn.
Sự đồng nhất sinh học của PCB khác nhau tùy theo sinh vật và điều kiện môi trường. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy không có bằng chứng về sự hấp thụ PCB của các sinh vật mặc dù đã ăn 70 con trong khi một số loài trai đã cho thấy khả năng chuyển một số hợp chất vào tuyến tiêu hóa của chúng.
Cho đến nay, vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng về sự tích tụ các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy hoặc các chất phụ gia nhựa bị rửa trôi ở người. Việc tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực này là rất quan trọng để hiểu rõ hơn về vai trò của nhựa trong các hệ sinh thái rộng lớn hơn và nguy cơ đối với sức khỏe con người.
(Còn tiếp)...
Các địa điểm được du khách Việt yêu thích nhất cho mùa lễ hội năm 2022
Năm 2022 đánh dấu sự trở lại đầy hứa hẹn của những chuyến chu du dành cho những trái tim ưa xê dịch và đã sẵn sàng bước ra ngoài thế giới, tận hưởng tất cả những điều tuyệt vời nhất của mùa lễ hội năm nay.
'Luồng xanh' cho du lịch cất cánh: 'Covid-19 buộc tất cả phải chọn chuyển đổi số hay không tồn tại'
Tại diễn đàn “Luồng xanh” cho du lịch cất cánh – Chuyên đề II: Chuyển đổi số: Động lực phát triển bền vững", ông Hoàng Quang Phòng cho rằng Covid-19 làm cho ngành du lịch trải qua những ngày đau đớn và chính cơn "sóng thần" này đẩy tất cả buộc phải lựa chọn: chuyển đổi số hay là không tồn tại nữa”?
Ứng dụng công nghệ số trong phát triển du lịch Hà Nội
Trước ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, chuyển đổi số được các công ty du lịch triển khai mạnh mẽ hơn.
Tiềm năng du lịch to lớn và lời kêu gọi doanh nghiệp đến Kon Tum để viết lên thành công
Theo Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Nguyễn Văn Hùng, du lịch Kon Tum trên bản đồ Việt Nam vẫn đang là tờ giấy trắng và các doanh nghiệp hãy đến với Kon Tum để viết lên thành công của chính mình.
Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch hậu Covid-19
Trong khuôn khổ VITM Hà Nội 2022, Hiệp hội Du lịch Việt Nam đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo Khôi phục và phát triển nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh bình thường mới.
Năm định hướng phục hồi du lịch và những vấn đề cần phải giải quyết
Tại Diễn đàn "Phục hồi Du lịch Việt Nam, định hướng mới, hành động mới", bên cạnh 5 định hướng do Tổng cục trưởng Nguyễn Trùng Khánh đưa ra, các đại biểu cũng đã thảo luận về những vấn đề cấp bách để du lịch nhanh chóng phục hồi và phát triển.
Những vấn đề du lịch Việt Nam phải đối diện khi mở cửa
Tại buổi thảo luận với chủ đề "Việt Nam - Trải nghiệm trọn vẹn", các vấn đề về nguồn nhân lực, việc làm mới các sản phẩm du lịch cũng như bảo đảm an toàn cho du khách... đã được đem ra thảo luận, phân tích.
Đề nghị 5 điểm nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch
Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Đạo Cương cho hay Bộ chính thức phát động mở lại các hoạt động du lịch trên phạm vi cả nước và đề nghị 5 điểm đối vơi scác địa phương, các điểm đến, các doanh nghiệp nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch, đẩy nhanh tốc độ phục hồi du lịch trong điều kiện bình thường mới.
Mở cửa toàn diện du lịch: 'Trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch'
Đề cập tới quyết định mở cửa toàn diện du lịch của Chính phủ, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam Vũ Thế Bình cho rằng "trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch, phải chứng minh chính sách mở cửa là đúng đắn".
Giải pháp nào cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam?
Chuyển đổi số hoạt động du lịch theo hướng cung cấp đầy đủ thông tin và trải nghiệm trực tuyến cho khách du lịch trước khi thực hiện chuyến đi và trong khi thực hiện chuyến đi theo thời gian thực.
Cơ hội, thách thức cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam
Theo ông Nguyễn Huy Dũng, bên cạnh những cơ hội thì tư duy, nhận thức đối với xu hướng phát triển tất yếu của du lịch thông minh, chuyển đổi số du lịch chưa cao là một trong những thách thức...
Ngành tài chính đã hỗ trợ du lịch vượt khó như thế nào?
Bên cạnh những giải pháp về thuế, phí và lệ phí, ngành tài chính còn áp dụng giải pháp về chi ngân sách nhà nước và một số giải pháp khác nhằm hỗ trợ du lịch vượt khó do Covid-19.
Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam
Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam dự kiến chia 2 giai đoạn kèm theo các nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên cụ thể: mở lại du lịch nội địa và du lịch quốc tế; phục hồi và phát triển đạt mức trước dịch.
5 đề xuất lớn để du lịch Đà Nẵng sớm phục hồi trong bối cảnh mới
Theo ông Lê Trung Chinh, để tạo điều kiện thuận lợi giúp du lịch Đà Nẵng nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung sớm phục hồi và phát triển trong bối cảnh mới, thành phố này có đề xuất một số nội dung giải pháp, chính sách thu hút đầu tư, phát triển du lịch.
Du lịch Đà Nẵng và những biện pháp để phục hồi trước ảnh hưởng do Covid-19
Với việc chuẩn bị để có tên trong 5 điểm đến thí điểm đầu tiên trong việc đón khách du lịch quốc tế, Đà Nẵng đã thể hiện mong muốn mạnh mẽ từng bước khôi phục hoạt động du lịch trong nước và quốc tế
Những chính sách đã từng giúp du lịch Đà Nẵng có bước phát triển đột phá
Theo vị Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng, một số chính sách đã giúp cho du lịch Đà Nẵng phát triển đột phá trong việc hình thành sản phẩm du lịch đặc sắc, cũng như tăng trưởng vượt bậc về số lượng khách du lịch và tổng thu du lịch so với giai đoạn trước đây.
Du lịch Ninh Bình: Phát triển thương hiệu gắn với di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư
Theo Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, trong thời gian tới, tỉnh Ninh Bình sẽ định vị, phát triển thương hiệu du lịch gắn với hình ảnh, giá trị Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An, di tích lịch sử - văn hóa Cố đô Hoa Lư, hướng tới ngành du lịch xanh, bền vững.
Những kinh nghiệm phát triển của du lịch Ninh Bình
Trong những năm qua, du lịch Ninh Bình có nhiều khởi sắc. Tỉnh đã chuyển đổi các khu vực núi non, canh tác nông nghiệp khó khăn thành các khu vực phát triển du lịch, dần hình thành các điểm đến du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước.
Hoàn thuế cho du khách quốc tế mua hàng tại Việt Nam như thế nào?
Theo chuyên gia tư vấn thuế, việc hoàn thuế GTGT cho khách du lịch quốc tế mua hàng hóa tại Việt Nam, mang về nước khi xuất cảnh được thực hiện theo một số hình thức khác nhau, nhưng được phân theo 3 nhóm.


















