Thứ sáu, 25/12/2020, 18:55 PM
  • Click để copy

Phát triển du lịch bền vững trong giới hạn của sức chịu tải môi trường (P.1)

Theo nhóm tác giả do ông Trương Sỹ Vinh đứng đầu, từ việc đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu du lịch biển Sầm Sơn có thể đưa ra các khuyến nghị để phát triển du lịch bền vững trong giới hạn của sức chịu tải môi trường.

Lời giới thiệu: Đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu, điểm du lịch nhằm xác định mức độ ô nhiễm và khả năng tự phục hồi của môi trường tự nhiên cũng như khả năng đáp ứng của môi trường kinh tế – xã hội. Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về đánh giá sức chịu tải của môi trường tại các khu, điểm du lịch với các tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, mỗi khu, điểm du lịch có đặc điểm khác nhau về tính chất tài nguyên, phạm vi và khả năng khai thác cũng như điều kiện về kinh tế – xã hội… do vậy, quá trình đánh giá cần lựa chọn các phương pháp tính toán phù hợp. 

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu bài viết: "Đánh giá sức chịu tải môi trường của khu du lịch biển Sầm Sơn" của nhóm tác giả Trương Sỹ Vinh - Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch, Lê Thanh Xuân-  Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Dư Văn Toán - Viện nghiên cứu biển và hải đảo, Nguyễn Thùy Vân - Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch.

Theo nhóm tác giả, nghiên cứu này áp dụng các phương pháp tính toán đã có để đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu du lịch biển Sầm Sơn trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị để phát triển du lịch bền vững trong giới hạn của sức chịu tải môi trường.

bien-sam-son

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua, hoạt động du lịch đã đem lại nhiều kết quả to lớn, đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Năm 2017, Việt Nam được Tổ chức Du lịch Thế giới xếp thứ 6 trong 10 điểm du lịch có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới và đứng đầu châu Á.

Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, năm 2019, Việt Nam đón khoảng 18 triệu khách quốc tế tăng 16% so với năm 2018, đồng thời phục vụ 85 triệu khách nội địa tăng 6.3% so với năm 2018.

Du lịch phát triển đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng giá trị tổng sản phẩm quốc dân, giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động, tăng thu nhập đầu người, nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện giao lưu văn hoá và hội nhập với khu vực và thế giới.

Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch đã gây ra những hệ lụy nhất định đến môi trường tự nhiên. Sự tăng trưởng cao của lượng khách du lịch cùng với xu hướng du lịch đại trà và tính thời vụ của hoạt động du lịch tại Việt Nam giai đoạn vừa qua đã dẫn đến nhiều khu, điểm du lịch bị quá tải trong sử dụng hạ tầng; không đủ năng lực thu gom và xử lý rác thải, nước thải; không kiểm soát tốt những tác động tiêu cực lên các hệ sinh thái.

Đối với môi trường xã hội, du lịch phát triển làm gia tăng các tệ nạn xã hội, văn hoá truyền thống của địa phương bị thay đổi. Các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể bị xâm hại hoặc thay đổi tính nguyên bản của di sản để phục vụ lượng khách du lịch ngày càng nhiều.

Tất cả những vấn đề trên đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển bền vững của du lịch Việt nam nói chung và hình ảnh của du lịch Việt Nam trong mắt khách du lịch quốc tế. Việc khai thác du lịch vượt quá sức chịu tải môi trường (SCTMT) sẽ gây ra những ảnh hưởng, đôi khi không thể khắc phục được.Ở góc độ ngành du lịch, môi trường bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.

Do vậy, khả năng chịu tải của môi trường tại khu, điểm du lịch cần được tiếp cận đầy đủ ở cả hai khía cạnh về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đưa ra thuật ngữ sức chịu tải về môi trường: “SCTMT đối với khu, điểm du lịch là khả năng đáp ứng lượng khách tối đa trong không gian khu điểm du lịch và trong phạm vi giới hạn chịu đựng của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại khu, điểm đó”.

Khả năng đáp ứng lượng khách tối đa trong không gian khu điểm du lịch còn gọi là sức chiụ tải của không gian tài nguyên, là số khách du lịch tối đa mà các không gian dành cho hoạt động du lịch của khu, điểm du lịch có thể tải được.

Giới hạn chịu đựng của môi trường tự nhiên là giới hạn chịu đựng của các thành phần môi trường (đất, nước, không khí, hệ sinh thái và đa dạng sinh học…) tại khu, điểm du lịch đối với số lượng khách du lịch tối đa mà môi trường vẫn có thể tự phục hồi.

Giới hạn chịu đựng của môi trường xã hội là giới hạn chịu đựng của hệ thống hạ tầng kinh tế – xã hội (hạ tầng cấp nước, hạ tầng môi trường, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch,…) để đáp ứng tối đa số lượng khách đến khu, điểm du lịch mà vẫn đảm bảo sự hài lòng của cộng đồng địa phương và khách du lịch.Sức chịu tải môi trường là căn cứ để quản lý và kiểm soát nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực đến môi trường do hoạt động du lịch gây ra.

Đây là nội dung hết sức cần thiết và cần thực hiện sớm trước khi triển khai các quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển du lịch.Khu du lịch biển Sầm Sơn nằm ở phía Đông tỉnh Thanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá khoảng 16 km. Sầm Sơn có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng, gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa. Với hệ thống bãi biển đẹp (A, B, C, D) kéo dài 3.5 km, bằng phẳng, độ dốc thoải, bãi cát mịn, nước trong xanh có nồng độ muối dưới 30%, ngoài ra còn có Canxidium và nhiều khoáng chất khác có tác dụng chữa bệnh… rất phù hợp cho tắm biển và các hoạt động vui chơi giải trí nên từ lâu đã là khu nghỉ mát nổi tiếng của cả nước.

Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, với tốc độ phát triển nhanh, trong khi khả năng đáp ứng về hạ tầng cấp nước, xử lý môi trường và hệ thống cơ sở vật chất chưa theo kịp đã gây ra hiện tượng quá tải khách du lịch vào mùa cao điểm gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và trải nghiệm của khách du lịch.

Đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu du lịch biển Sầm Sơn nhằm xác định mức độ vượt tải về không gian du lịch, môi trường tự nhiên và kinh tế – xã hội tại Sầm Sơn. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng sức chịu tải đồng thời phát triển du lịch nằm trong giới hạn của sức chịu tải môi trường.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập các thông tin, tư liệu cần thiết trên cơ sở kế thừa các số liệu, công trình nghiên cứu, số liệu điều tra cơ bản đã có để tổng hợp, phân tích phục vụ quá trình đánh giá.Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra, khảo sát thực địa nhằm xác định các nguồn thải; đánh giá, nhận định thực tế về khả năng chịu tải môi trường của khu du lịch Sẩm Sơn

.Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra xã hội học về mức độ chấp nhận của cộng đồng địa phương và sự hài lòng của khách du lịch về môi trường tự nhiên, xã hội và số lượng khách du lịch và mùa cao điểm.

Phương pháp đánh giá, tổng hợp: Đây là phương pháp quan trọng được tổng hợp từ phương pháp trên thông qua kết quả điều tra thực địa, kết quả phân tích các tài liệu thu thập, báo cáo điều tra, các bản đồ chuyên đề… để đánh giá sức chịu tải môi trường và đề xuất giải pháp nhằm phát triển du lịch trong giới hạn của sức chịu tải môi trường tại khu du lịch biển Sầm Sơn.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1. Đánh giá chung về hiện trạng phát triển du lịch và hiện trạng môi trường tại Sầm Sơn

1.1. Hiện trạng phát triển du lịch tại Sầm Sơn

a. Khách du lịch

Giai đoạn 2015 – 2019, khách du lịch đến Sầm Sơn tăng trưởng đều, ổn định, tốc độ tăng trưởng đạt 5,04%. Năm 2015, Sầm Sơn phục vu 4.066.100 lượt khách lưu trú, đến năm 2019, số lượt khách lưu trú đạt 4.950.000 lượt, tăng gần 100.000 lượt so với năm 2015. Khách du lịch đến với Sầm Sơn chủ yếu là khách nội địa, chiếm 99,2%, cơ cấu khách đến Sầm Sơn chủ yếu là từ thị trường Hà Nội và các tỉnh phía Bắc đi theo đoàn do các công ty lữ hành tổ chức, tuy nhiên, những năm gần đây, khách quốc tế đến Sầm Sơn không ngừng gia tăng với tốc độ khá cao đạt 9.6%, cao hơn so với mức tăng trưởng tổng lượng khách trung bình/năm. Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch đến Sầm Sơn đạt 1.9 ngày.

Bảng 1.1: Hiện trạng khách du lịch lưu trú tại Sầm Sơn giai đoạn 2015 – 2019

Bảng 1.1: Hiện trạng khách du lịch lưu trú tại Sầm Sơn giai đoạn 2015 – 2019

So với toàn tỉnh, trong tổng số hơn 9 triệu lượt khách du lịch đến Thanh Hóa mỗi năm, khách du lịch đến Sầm Sơn chiếm trên 50%. Dự báo trong thời gian tới, với nhiều dự án đầu tư du lịch cao cấp của các tập đoàn lớn như FLC, Sun Group…, lượng khách du lịch đến Sầm Sơn sẽ có mức tăng trưởng mạnh và thu hút được nhiều khách quốc tế.

b. Tổng thu từ du lịch

Giai đoạn 2015 – 2019, tổng thu từ du lịch của Sầm Sơn tăng trưởng rất nhanh, đạt trung bình 29%/năm. Năm 2015, tổng thu từ du lịch đạt 3.450.000 tỷ đồng, năm 2019 đạt 7.920.000 tỷ đồng, tăng gần 2,3 lần.

Bảng 1.2: Tổng thu từ du lịch của Sầm Sơn giai đoạn 2015 – 2019. Đơn vị: Triệu đồng

Bảng 1.2: Tổng thu từ du lịch của Sầm Sơn giai đoạn 2015 – 2019. Đơn vị: Triệu đồng

So sánh với Thanh Hóa, tổng thu từ du lịch của Sầm Sơn có tốc độ tăng trưởng bình quân cao hơn gấp 1.8 lần. Giai đoạn 2015 – 2019, tổng thu từ du lịch Sầm Sơn đạt 26.410 tỷ đồng, chiếm 59% toàn tỉnh.

1.2. Hiện trạng môi trường khu du lịch Sầm Sơn

a. Môi trường đất

Theo kết quả quan trắc môi trường giai đoạn 2015 – 2019 của Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Thanh Hóa, hàm lượng các kim loại nặng (As, Cd, Cu, Pd, Zn) nằm trong QCVN 03:2008/BTNMT, dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật có giá trị thấp và nằm trong giới hạn so với QCVN 15:2008/BTNMT, các thông số quan trắc có sự biến động không đáng kể giữa các năm.

b. Môi trường nước

Nước thải tại Sầm Sơm chủ yếu là nước thải sinh hoạt của người dân và nước thải từ hoạt động du lịch. Ngoài ra, còn có một phần nước thải từ quá trình sản xuất công nghiệp chế biến thủy, hải sản, hoạt động vận tải đường thủy, nước mưa chảy tràn…

Theo kết quả quan trắc môi trường giai đoạn 2015 – 2019 của Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Thanh Hóa, chất lượng môi trường nước mặt, nước ngầm và nước biển ven bờ tại Sầm Sơn đã có dấu hiệu ô nhiễm tại một số thời điểm. Về chất lượng nước biển ven bờ khu vực gần các bãi tắm, thông số về hàm lượng Asen (As) và Xyanua (CN) vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép theo QCVN 10-MT: 2015/BTNMT. Bên cạnh đó, hàm lượng oxy hòa tan (DO) và pH của nước biển thấp hơn tiêu chuẩn cho phép. Tuy nhiên, hiện tượng này không duy trì liên tục và chỉ ô nhiễm cục bộ tại một số thời điểm.

Bảng 1.3: Kết quả phân tích chất lượng nước biển ven bờ khu du lịch biển Sầm Sơn.

Bảng 1.3: Kết quả phân tích chất lượng nước biển ven bờ khu du lịch biển Sầm Sơn.

c. Môi trường không khí

Kết quả quan trắc môi trường giai đoạn 2015 – 2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa cho thấy, nhìn chung chất lượng môi trường không khí tại Sầm Sơn khá tốt, hầu hết các chỉ tiêu đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép.

2. Đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu du lịch biển Sầm Sơn

2.1. Sức chịu tải không gian du lịch

Sức chịu tải của không gian tài nguyên bãi biển Sầm Sơn được tính toán theo công thức của Boullón (1985).

TCC = RT/PCC

Trong đó:

– TCC: Sức chịu tải của không gian tài nguyên

– RT: Số lượt khách thực tế

– PCC: Số lượt khách tiêu chuẩn (PCC = A/D)

– A là tổng diện tích khu vực tắm biển (m2)

– D là diện tích tiêu chuẩn cho 1 khách (m2/người)

Nếu chỉ số TCC = 1 (sức tải = 100%) đã chạm ngưỡng chịu tải; TCC < 1 (sức tải <100%) nằm trong giới hạn chịu tải cho phép, và TCC > 1 (sức tải >100%) đã vượt quá sức chịu tải.Khu vực biển Sầm Sơn gồm 04 bãi tắm: A, B, C, D với tổng chiều dài 3.500 m, chiều rộng 200 m, trong đó khu vực có khả năng tắm biển chiếm khoảng 80% (20% còn lại là khu vực khai thác dịch vụ, chuyển giao địa hình và neo đậu thuyền bè của ngư dân). Bãi biển Sầm Sơn được xác định là bãi bãi tắm công cộng, bình dân, do vậy tiêu chuẩn không gian của mỗi khách du lịch tắm biển tại Sầm Sơn (Fred Lawson, Manuel Baud Bovy và ESCAP, 1997) khoảng 15 – 20 m2.

Theo số liệu thống kê của UBND thành phố Sầm Sơn, 60% khách du lịch đến với Sầm Sơn tập trung vào các ngày cuối tuần của 6 tháng mùa nóng, tương đương với 52 ngày, như vậy vào dịp cao điểm Sầm Sơn đón 57.115 lượt/ngày.

Bảng 2.1: Sức chịu tải không gian tài nguyên bãi biển Sầm Sơn.

Bảng 2.1: Sức chịu tải không gian tài nguyên bãi biển Sầm Sơn.

Theo bảng 1.5: Vào những ngày thường, TCC = 0.42 (42%) < 1, bãi tắm Sầm Sơn chưa vượt quá sức chịu tải; Vào mùa cao điểm, TCC = 1.78 (178%) > 1, bãi tắm Sầm Sơn đã vượt quá sức chịu tải về không gian 1.78 lần. Việc vượt quá sức chịu tải về không gian tắm biển đã làm ảnh hưởng đến chất lượng trải nghiệm của khách du lịch, thay vì mỗi khách du lịch có khoảng 17.5 m2 để tắm biển thì vào mùa cao điểm trung bình mỗi khách chỉ còn 9.8 m2. Trên thực tế, vào ngày cao điểm nhất (dịp 30/4 – 1/5, năm 2019), số lượt khách đến Sầm Sơn đạt 146.000 lượt khách/ngày, vượt quá sức tải về không gian 4.56 lần, tuy nhiên hiện tượng này không diễn ra thường xuyên.

(còn nữa)

Bài liên quan
Các địa điểm được du khách Việt yêu thích nhất cho mùa lễ hội năm 2022
Các địa điểm được du khách Việt yêu thích nhất cho mùa lễ hội năm 2022
07/12/2022 Thống kê

Năm 2022 đánh dấu sự trở lại đầy hứa hẹn của những chuyến chu du dành cho những trái tim ưa xê dịch và đã sẵn sàng bước ra ngoài thế giới, tận hưởng tất cả những điều tuyệt vời nhất của mùa lễ hội năm nay.

'Luồng xanh' cho du lịch cất cánh: 'Covid-19 buộc tất cả phải chọn chuyển đổi số hay không tồn tại'
'Luồng xanh' cho du lịch cất cánh: 'Covid-19 buộc tất cả phải chọn chuyển đổi số hay không tồn tại'
18/05/2022 Phân tích

Tại diễn đàn “Luồng xanh” cho du lịch cất cánh – Chuyên đề II: Chuyển đổi số: Động lực phát triển bền vững", ông Hoàng Quang Phòng cho rằng Covid-19 làm cho ngành du lịch trải qua những ngày đau đớn và chính cơn "sóng thần" này đẩy tất cả buộc phải lựa chọn: chuyển đổi số hay là không tồn tại nữa”?

Ứng dụng công nghệ số trong phát triển du lịch Hà Nội
Ứng dụng công nghệ số trong phát triển du lịch Hà Nội
06/05/2022 Nghiên cứu

Trước ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, chuyển đổi số được các công ty du lịch triển khai mạnh mẽ hơn.

Tiềm năng du lịch to lớn và lời kêu gọi doanh nghiệp đến Kon Tum để viết lên thành công
Tiềm năng du lịch to lớn và lời kêu gọi doanh nghiệp đến Kon Tum để viết lên thành công
25/04/2022 Nghiên cứu

Theo Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Nguyễn Văn Hùng, du lịch Kon Tum trên bản đồ Việt Nam vẫn đang là tờ giấy trắng và các doanh nghiệp hãy đến với Kon Tum để viết lên thành công của chính mình.

Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch hậu Covid-19
Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch hậu Covid-19
03/04/2022 Thống kê

Trong khuôn khổ VITM Hà Nội 2022, Hiệp hội Du lịch Việt Nam đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo Khôi phục và phát triển nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh bình thường mới.

Năm định hướng phục hồi du lịch và những vấn đề cần phải giải quyết
Năm định hướng phục hồi du lịch và những vấn đề cần phải giải quyết
01/04/2022 Nghiên cứu

Tại Diễn đàn "Phục hồi Du lịch Việt Nam, định hướng mới, hành động mới", bên cạnh 5 định hướng do Tổng cục trưởng Nguyễn Trùng Khánh đưa ra, các đại biểu cũng đã thảo luận về những vấn đề cấp bách để du lịch nhanh chóng phục hồi và phát triển.

Những vấn đề du lịch Việt Nam phải đối diện khi mở cửa
Những vấn đề du lịch Việt Nam phải đối diện khi mở cửa
23/03/2022 Nghiên cứu

Tại buổi thảo luận với chủ đề "Việt Nam - Trải nghiệm trọn vẹn", các vấn đề về nguồn nhân lực, việc làm mới các sản phẩm du lịch cũng như bảo đảm an toàn cho du khách... đã được đem ra thảo luận, phân tích.

Đề nghị 5 điểm nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch
Đề nghị 5 điểm nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch
22/03/2022 Phân tích

Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Đạo Cương cho hay Bộ chính thức phát động mở lại các hoạt động du lịch trên phạm vi cả nước và đề nghị 5 điểm đối vơi scác địa phương, các điểm đến, các doanh nghiệp nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch, đẩy nhanh tốc độ phục hồi du lịch trong điều kiện bình thường mới.

Mở cửa toàn diện du lịch: 'Trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch'
Mở cửa toàn diện du lịch: 'Trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch'
19/02/2022 Phân tích

Đề cập tới quyết định mở cửa toàn diện du lịch của Chính phủ, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam Vũ Thế Bình cho rằng "trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch, phải chứng minh chính sách mở cửa là đúng đắn".

Giải pháp nào cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam?
Giải pháp nào cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam?
19/01/2022 Nghiên cứu

Chuyển đổi số hoạt động du lịch theo hướng cung cấp đầy đủ thông tin và trải nghiệm trực tuyến cho khách du lịch trước khi thực hiện chuyến đi và trong khi thực hiện chuyến đi theo thời gian thực.

Cơ hội, thách thức cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam
Cơ hội, thách thức cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam
19/01/2022 Phân tích

Theo ông Nguyễn Huy Dũng, bên cạnh những cơ hội thì tư duy, nhận thức đối với xu hướng phát triển tất yếu của du lịch thông minh, chuyển đổi số du lịch chưa cao là một trong những thách thức...

Ngành tài chính đã hỗ trợ du lịch vượt khó như thế nào?
Ngành tài chính đã hỗ trợ du lịch vượt khó như thế nào?
18/01/2022 Nghiên cứu

Bên cạnh những giải pháp về thuế, phí và lệ phí, ngành tài chính còn áp dụng giải pháp về chi ngân sách nhà nước và một số giải pháp khác nhằm hỗ trợ du lịch vượt khó do Covid-19.

Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam
Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam
17/01/2022 Nghiên cứu

Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam dự kiến chia 2 giai đoạn kèm theo các nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên cụ thể: mở lại du lịch nội địa và du lịch quốc tế; phục hồi và phát triển đạt mức trước dịch.

5 đề xuất lớn để du lịch Đà Nẵng sớm phục hồi trong bối cảnh mới
5 đề xuất lớn để du lịch Đà Nẵng sớm phục hồi trong bối cảnh mới
16/01/2022 Nghiên cứu

Theo ông Lê Trung Chinh, để tạo điều kiện thuận lợi giúp du lịch Đà Nẵng nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung sớm phục hồi và phát triển trong bối cảnh mới, thành phố này có đề xuất một số nội dung giải pháp, chính sách thu hút đầu tư, phát triển du lịch.

Du lịch Đà Nẵng và những biện pháp để phục hồi trước ảnh hưởng do Covid-19
Du lịch Đà Nẵng và những biện pháp để phục hồi trước ảnh hưởng do Covid-19
16/01/2022 Nghiên cứu

Với việc chuẩn bị để có tên trong 5 điểm đến thí điểm đầu tiên trong việc đón khách du lịch quốc tế, Đà Nẵng đã thể hiện mong muốn mạnh mẽ từng bước khôi phục hoạt động du lịch trong nước và quốc tế

Những chính sách đã từng giúp du lịch Đà Nẵng có bước phát triển đột phá
Những chính sách đã từng giúp du lịch Đà Nẵng có bước phát triển đột phá
16/01/2022 Nghiên cứu

Theo vị Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng, một số chính sách đã giúp cho du lịch Đà Nẵng phát triển đột phá trong việc hình thành sản phẩm du lịch đặc sắc, cũng như tăng trưởng vượt bậc về số lượng khách du lịch và tổng thu du lịch so với giai đoạn trước đây.

Du lịch Ninh Bình: Phát triển thương hiệu gắn với di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư
Du lịch Ninh Bình: Phát triển thương hiệu gắn với di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư
14/01/2022 Nghiên cứu

Theo Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, trong thời gian tới, tỉnh Ninh Bình sẽ định vị, phát triển thương hiệu du lịch gắn với hình ảnh, giá trị Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An, di tích lịch sử - văn hóa Cố đô Hoa Lư, hướng tới ngành du lịch xanh, bền vững.

Những kinh nghiệm phát triển của du lịch Ninh Bình
Những kinh nghiệm phát triển của du lịch Ninh Bình
14/01/2022 Nghiên cứu

Trong những năm qua, du lịch Ninh Bình có nhiều khởi sắc. Tỉnh đã chuyển đổi các khu vực núi non, canh tác nông nghiệp khó khăn thành các khu vực phát triển du lịch, dần hình thành các điểm đến du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước.

Hoàn thuế cho du khách quốc tế mua hàng tại Việt Nam như thế nào?
Hoàn thuế cho du khách quốc tế mua hàng tại Việt Nam như thế nào?
13/01/2022 Nghiên cứu

Theo chuyên gia tư vấn thuế, việc hoàn thuế GTGT cho khách du lịch quốc tế mua hàng hóa tại Việt Nam, mang về nước khi xuất cảnh được thực hiện theo một số hình thức khác nhau, nhưng được phân theo 3 nhóm.