Thứ bảy, 26/12/2020, 19:00 PM
  • Click để copy

Phát triển du lịch bền vững trong giới hạn của sức chịu tải môi trường (P.2)

Theo nhóm tác giả do ông Trương Sỹ Vinh đứng đầu, từ việc đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu du lịch biển Sầm Sơn có thể đưa ra các khuyến nghị để phát triển du lịch bền vững trong giới hạn của sức chịu tải môi trường.

Lời giới thiệu: Đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu, điểm du lịch nhằm xác định mức độ ô nhiễm và khả năng tự phục hồi của môi trường tự nhiên cũng như khả năng đáp ứng của môi trường kinh tế – xã hội. Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về đánh giá sức chịu tải của môi trường tại các khu, điểm du lịch với các tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, mỗi khu, điểm du lịch có đặc điểm khác nhau về tính chất tài nguyên, phạm vi và khả năng khai thác cũng như điều kiện về kinh tế – xã hội… do vậy, quá trình đánh giá cần lựa chọn các phương pháp tính toán phù hợp. 

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu phần tiếp theo của bài viết: "Đánh giá sức chịu tải môi trường của khu du lịch biển Sầm Sơn" của nhóm tác giả Trương Sỹ Vinh - Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch, Lê Thanh Xuân-  Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Dư Văn Toán - Viện nghiên cứu biển và hải đảo, Nguyễn Thùy Vân - Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch.

Theo nhóm tác giả, nghiên cứu này áp dụng các phương pháp tính toán đã có để đánh giá sức chịu tải môi trường tại khu du lịch biển Sầm Sơn trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị để phát triển du lịch bền vững trong giới hạn của sức chịu tải môi trường.

Ảnh: Vietnam Journey.

Ảnh: Vietnam Journey.

2.2. Sức chịu tải môi trường tự nhiên (môi trường nước biển)

2.2.1. Kiểm kê nguồn thải

Nước thải tại Sầm Sơn được xác định và kiểm kê từ các hoạt động dân sinh và kinh tế – xã hội tại địa phương, cụ thể như sau:

Nguồn nước thải từ người dân: Năm 2019, dân số của thành phố Sầm Sơn 108.320 người, với tiêu chuẩn sử dụng trung bình 115 lít/ngày.đêm, lượng nước thải của người dân: 10.500 m3/ngày.đêm.

Nước thải từ khách du lịch: Theo báo cáo của UBND thành phố Sầm Sơn, năm 2019 Sầm Sơn phục vụ 9.750.000 ngày khách (UBND TP. Sầm Sơn, Báo cáo tổng kết hoạt động du lịch năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2020), với tiêu chuẩn mỗi lượt khách sử dụng trung bình 320 lít/ngày.đêm, lượng nước thải từ khách du lịch được xác định: 8.548 m3/ngày.đêm.

Các nguồn thải khác: Nguồn thải từ các khu công nghiệp và nước thải từ các công trình công cộng được xác định bằng 10% lượng nước thải sinh hoạt của người dân tương đương: 1.050 m3/ngày.đêm. Riêng nguồn nước thải từ các khu công nghiệp tại Sầm Sơn được xử lý tại chỗ bởi hệ thống xử lý nước thải của mỗi khu công nghiệp.

Như vậy, nguồn thải gây ô nhiễm tại Sầm Sơn được xác định chủ yếu là nước thải sinh hoạt từ người dân, khách du lịch và các công trình công cộng, với tổng lượng nước thải: 20.098 m3/ngày.đêm.

Hiện nay, tỷ lệ thu gom và xử lý nước thải tại Sầm Sơn đạt xấp xỉ 60% (thông qua hệ thống xử lý tại lắng sinh học tại khu xử lý nước thải tập trung của Thành phố và các công trình bể tự hoại), do vậy sẽ còn lại trên 40% lượng nước thải chưa được xử lý thải ra môi trường, tương đương: 8.399 m3/ngày.đêm.

Lượng nước thải chưa được xử lý trên được xác định bởi các nguồn:(1) Nước thải từ các hoạt động dân sinh của người dân tại 06 phường xã các xã mở rộng, khu vực chưa có hệ thống thu gom, lượng nước thải này được thải trực tiếp ra khu vực các cánh đồng và ao hồ xung quanh. Dân số tại 06 phường xã mở rộng khoảng 39.760 người (Báo cáo của Công ty Môi trường đô thị thành phố Sầm Sơn, 2019). Lượng nước thải tương đương 3.887 m3/ngày.đêm.(2) Nước thải từ các hoạt động dân sinh, du lịch và công cộng tại các khu vực trung tâm được thu gom chung với hệ thống nước mưa như do quá tải bị chảy tràn ra 02 miệng cống đẩy ra biển.Theo đó, lượng nước thải ra biển trung bình: 8.399 – 3.887 = 4.512 m3/ngày.đêm.

2.2.2. Tải lượng các chất ô nhiễm có trong nước thải ra biển

Hiện nay, tổng dân số khu vực trung tâm thành phố Sầm Sơn: 68.560 người; Lượng khách lưu trú trung bình/ngày tại Sầm Sơn: 9.750.000/365 = 26.712 (lượt), tỷ lệ của khách lưu trú trung bình ngày/người dân: 26.712/68.560 = 0.39. Theo tiêu chuẩn xả thải khách du lịch, người dân và tỷ lệ xả thải của các nguồn khác (công trình công cộng 10% lượng xả thải của người dân) có thể xác định khối lượng thải của mỗi đối tượng.Giả sử gọi K là số lượt khách lưu trú trung bình/ngày ta có phương trình khối lượng xả nước thải của mỗi đối tượng như sau:

(0,32 x K + 0.115 x K/(0.39) + 0,115 x K/(0.39) x 10%) x 85% = 4.512

K = 8.238, như vậy lượng nước thải 4.512 m3/ngày.đêm ra biển do 8.238 lượt khách lưu trú/ngày, 17.797 người dân, và 10% còn lại do các công trình công cộng, hàm lượng và tỷ lệ phát thải như sau:

Bảng 2.2: Hàm lượng và tỷ lệ phát sinh nước thải ra biển tại Sầm Sơn.

Bảng 2.2: Hàm lượng và tỷ lệ phát sinh nước thải ra biển tại Sầm Sơn.

Qua bảng 2.2 cho thấy, lượng nước thải chưa được xử lý, chảy ra biển do khách du lịch lưu trú/ngày tại Sầm Sơn chiếm xấp xỉ 50%; Do người dân chiếm 45.7% và các nguồn khác chiếm 4.6%.Tải lượng các chất gây ô nhiễm môi trường nước chưa được xử lý, thải ra biển Sầm Sơn được xác định đựa trên hệ số ô nhiễm và khối lượng các nguồn thải.Hệ số ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt được căn cứ theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới tại Bảng 2.3 (World Heath Organization, Gevera, (1993), Assessment of sources of Air, Water, and Land pollution).

Bảng 2.3. Hệ số ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt.

Bảng 2.3. Hệ số ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt.

Tải lượng các chất ô nhiễm có trong nước thải theo từng nguồn cụ thể theo Bảng 2.4.

Bảng 2.4. Tải lượng các chất ô nhiễm có trong nước thải sinh hoạt chưa được xử lý, thải ra biển Sầm Sơn.

Bảng 2.4. Tải lượng các chất ô nhiễm có trong nước thải sinh hoạt chưa được xử lý, thải ra biển Sầm Sơn.

Như vậy, có thể thấy tải lượng các chất ô nhiễm thải ra môi trường nước biển chủ yếu là do hoạt động sinh hoạt của người dân, chiếm 67.1%; do khách du lịch chiếm 26.32%, còn lại là các nguồn khác chiếm 6.58%.

2.2.3. Sức chịu tải môi trường nước biển Sầm Sơn

Sức chịu tải của môi trường nước biển tại Sầm Sơn được áp dụng tính toán theo công thức của (GESAM, 1986):

Ltn = (Ctc – Cht) x V x (1+R)

Trong đó:

Ltn: Khả năng tiếp nhận của môi trường nước

Ctc: Nồng độ giới hạn cho phép của thông số ô nhiễm (kg/m3)

Cht: Nồng độ hiện tại của thông số ô nhiễm (kg/m3)

V: Thể tích trung bình của thủy vực (m3)

R: Tỷ lệ trao đổi nước %Nếu khả năng tiếp nhận Ltn ≤ 0 tức là khu vực biển đó đã đủ hoặc quá tải, không thể tiếp nhận thêm các chất gây ô nhiễm.

Nồng độ giới hạn của thông số ô nhiễm được căn cứ theo QCVN 10-MT: 2015/BTNMT và quy đổi về đơn vị kg/m3.

Nồng độ hiện tại của thông số ô nhiễm được căn cứ trên kết quả phân tích môi trường nước biển ven bờ của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa tại Bảng 1.3, và quy đổi về đơn vị kg/m3.Đối với bãi biển Sầm Sơn, thể tích trung bình của thủy vực được xác định trong phạm vi ven bờ (cách bờ 3 hải lý), độ sâu trung bình đạt 8 m, chiều dài bãi biển khu vực tiếp nhận nguồn thải 2.5 km, tỷ lệ trao đổi nước khoảng 30%.

Bảng 2.5: Sức chịu tải môi trường nước biển Sầm Sơn.

Bảng 2.5: Sức chịu tải môi trường nước biển Sầm Sơn.

Qua bảng 2.5 cho thấy, khả năng tiếp nhận của bãi biển Sầm Sơn đối với chất rắn lơ lửng (TSS) và Amoni (NH4+) đã vượt tải (Ltn< 0), đối với Phospho có thể tiếp nhận thêm 113 kg/ngày. Lượng chất rắn lơ lửng thải ra biển Sầm Sơn do sinh hoạt của người dân, khách du lịch và các công trình công cộng đã vượt khả năng tiếp nhận 2.691 kg/ngày.đêm. Lượng Amoni, vượt khả năng tiếp nhận 95kg/ngày.đêm.

Hình 1.1: Biểu đồ khả năng tiếp nhận các chất ô nhiễm môi trường nước biển tại Sầm Sơn.

Hình 1.1: Biểu đồ khả năng tiếp nhận các chất ô nhiễm môi trường nước biển tại Sầm Sơn.

Dựa theo hệ số phát thải và tỷ lệ phát thải giữa các đối tượng có thể phân chia tải lượng phát sinh các chất ô nhiễm vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường nước biển Sầm Sơn theo các nguồn phát sinh như sau:

Bảng 2.6: Phân chia tải lượng các chất ô nhiễm vượt tải theo các nguồn phát sinh.

Bảng 2.6: Phân chia tải lượng các chất ô nhiễm vượt tải theo các nguồn phát sinh.

Như vậy, đối với hoạt động du lịch hiện tại của Sầm Sơn, việc đón tiếp 26.712 lượt khách du lịch lưu trú/ngày.đêm đã vượt quá sức chịu tải của môi trường nước biển. Số lượng khách du lịch lưu trú/ngày.đêm có thể đón tiếp để đảm bảo khả năng tự phục hồi của môi trường nước biển: 26.712 – 6.946 = 19.226 lượt/ngày.đêm, tương đương 3.562.726 lượt khách lưu trú/năm, đạt 72% so với hiện tại.

Mức độ vượt SCTMT nước biển: 26.712/19.266 = 1.39 (139%)

2.3. Sức chịu tải môi trường kinh tế xã hội

2.3.1. Khả năng đáp ứng của hệ thống cấp nước

Khả năng đáp ứng hệ thống cấp nước được xác định dựa trên tỷ lệ giữa công suất cấp nước (Phc ) và mức độ tiêu thụ nước (Pyc).

Nếu Phc/Pyc > 1, hệ thống cấp nước chưa bị quá tải.Về công suất cấp nước: Nước tại Sầm Sơn được cung cấp bởi hệ thống cấp nước tập trung được dẫn từ thành phố Thanh Hoá bằng tuyến ống truyền tải D400 đặt dọc Quốc lộ 47 và được tăng áp bởi trạm bơm tăng áp tại Quảng Hưng với công suất: Phc = 10.000 (m3/ngày.đêm).

Về mức độ tiêu thụ nước: Theo thống kê của Chi nhánh Cấp nước Sầm Sơn, tổng lượng nước tiêu thụ của khách hàng địa bàn thành phố 150.000 m3/tháng (vào mùa đông, thời điểm vắng khách du lịch) tương đương 5.000 m3/ngày.đêm và 210.000 m3/tháng tương đương 7.000 m3/ngày.đêm (vào mùa hè). Theo đó, công suất nước cấp cần có tại Sầm Sơn vào ngày cao điểm Pyc = 7.000 (m3/ngày.đêm).

Khả năng đáp ứng hệ thống cấp nước: Phc/Pyc = 10.000/7.000 = 1.43 > 1

Như vậy, hiện nay với công suất cấp nước 10.000 m3/ngày.đêm của Thành phố Sầm Sơn đủ cho phục vụ cho các hoạt động sản xuất, sinh hoạt và du lịch ngày bình thường.

Bên cạnh đó, với khả năng cấp nước hiện tại còn lại còn có thể đáp ứng thêm số lượt khách lưu trú/ngày: 3.000/0.32 = 9.735 lượt/ngày.đêm.

Số lượt khách lưu trú tối đa/ngày: 26.712 + 9.375 = 36.087 (lượt/ngày.đêm)

Vào những ngày cao điểm, số lượt khách lưu trú tại Sầm Sơn lên đến 57.155 lượt/ngày.

SCTMT của hệ thống cấp nước ngày cao điểm đạt: 57.115/36.087 = 1.58.

Tuy nhiên, Sầm Sơn chưa xảy ra hiện tượng thiếu nước, do ngoài nguồn nước cấp của Thành phố, 75% người dân và các cơ sở còn sử dụng thêm nguồn nước ngầm tự khai thác.

2.3.2. Khả năng đáp ứng của hệ thống thu gom và xử lý chất thải

a. Đối với nước thải

Khả năng đáp ứng của hệ thống thu gom xử lý nước thải được tính toán theo công thức:

Lhtmtl = M – N

Trong đó: Lhtml: Khả năng đáp ứng của hệ thống xử lý nước thải

M: Tổng lượng nước thải

N: Công suất xử lý nước thải

Về tổng lượng nước thải: Theo tính toán của phần trên, tổng lượng nước thải tại Sầm Sơn: M = 20.098 m3/ngày.đêm.

Về công suất thu gom và xử lý nước thải: Hiện nay, nước thải sinh hoạt được thu gom và bơm qua hệ thống hồ lắng tại xã Trung Sơn để xử lý, tỷ lệ thu gom nước thải đạt xấp xỉ 60%. Theo đó, tổng lượng nước thải được thu gom và xử lý: N = 11.699 m3/ngày.đêm.

Khả năng đáp ứng của hệ thống thu gom, xử lý nước thải: Lhtmtl = 20.098 – 11.699 = 8.399 (m3/ngày.đêm)

Lhtmtl > 0, như vậy hệ thống thu gom và xử lý nước thải của Sầm Sơn hiện tại không đáp ứng được nhu cầu xử lý nước thải.

Với khả năng xử lý nước thải như trên, có thể đáp ứng được số lượt khách lưu trú/ngày tối đa: 19.226 lượt/ngày.đêm

b. Đối với chất thải rắn

Khả năng đáp ứng của hệ thống thu gom và xử lý CTR tại Sầm Sơn được đánh giá thông qua tổng lượng phát sinh CTR và khả năng thu gom xử lý rác thải.

Về lượng phát sinh CTR: Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt tại Sầm Sơn hiện nay, M = 145 m3/ngày.đêm

Về hệ thống thu gom và xử lý rác thải: Hiện nay, tổng lượng CTR sinh hoạt tại Sầm Sơn được thu gom và vận chuyển đi xử lý, N = 50m3/ngày.đêm.

Khả năng đáp ứng của hệ thống xử lý chất thải được xác định như sau:Lhtmtr = 145 – 50 = 95 (m3/ngày.đêm)

Lhtmtr > 0, như vậy hệ thống thu gom và xử lý CTR của Sầm Sơn hiện tại không đáp ứng được nhu cầu xử lý CTR.

Với công suất 50 m3/ngày.đêm hiện tại, hệ thống thu gom và xử lý rác thải tại Sầm Sơn chỉ đáp ứng được 43% nhu cầu xử lý, số lượt khách lưu trú/ngày tối đa: 11.486 (lượt/ngày.đêm).

2.3.3. Khả năng đáp ứng của hệ thống cơ sở lưu trú

Số lượt khách lưu trú tối đa (công suất sử dụng phòng là 100%) có thể phục vụ trong năm với số phòng hiện tại Sầm Sơn:Số lượt khách lưu trú tối đa/năm = (Tổng số giường x 365 ngày) / Số ngày lưu trú trung bìnhTrong đó, tổng số giường = Số phòng x Số giường/phòngSố phòng tại Sầm Sơn: 19.000 phòng, số ngày lưu trú trung bình tại Sầm Sơn: 1,97 ngày.Theo đó, số lượt khách lưu trú tối đa/năm tại Sầm Sơn:

Số lượt khách lưu trú tối đa/năm =  (38.000 x 365)/1,97 = 7.040.609

Theo thống kê của UBND thành phố Sầm Sơn, số lượt khách lưu trú cao nhất tại Sầm Sơn những năm qua đạt 4.950.000 lượt khách/năm. Như vậy, hệ thống cơ sở lưu trú Sầm Sơn hiện chưa quá tải.

4. Đánh giá chung về sức chịu tải môi trường tại Khu du lịch Sầm Sơn

Trên cơ sở kết quả đánh giá sức chịu tải từng thành phần môi trường, SCTMT của khu du lịch Sầm Sơn được tổng hợp tại Bảng 2.7.

Bảng 2.7: Tổng hợp sức chịu tải môi trường của KDL Sầm Sơn.

Bảng 2.7: Tổng hợp sức chịu tải môi trường của KDL Sầm Sơn.

Ghi chú:

– (*) Chỉ tính cho khách lưu trú

– (**) Chỉ tính khả năng thu gom

– (***) Chỉ đánh giá chung cho cả năm

Với tính chất là khu du lịch biển, mục đích chính của khách du lịch đến Sầm Sơn là nghỉ dưỡng biển.

Bởi vậy, SCTMT tổng hợp của khu du lịch được xem xét là SCTMT không gian bãi biển. SCTMT hạ tầng kinh tế – xã hội và SCTMT xã hội là các điều kiện giới hạn.

– Kết quả tính toán cho thấy: Thực tế số lượng khách đến tham quan Sầm Sơn trong cả năm vẫn thấp hơn SCTMT không gian bãi biển. Tuy nhiên vào mùa cao điểm, bên cạnh SCTMT không gian bãi biển đã vượt sức tải 178%, sức chịu tải của môi trường kinh tế – xã hội đã vượt tải ở mức cao. Trong đó, sức tải của hệ thống thu gom, xử lý CTR vượt đến 497% gây ô nhiễm rác thải, sức chịu tải của hệ thống thu gom xử lý nước thải vượt tải 297%, kéo theo sức chịu tải môi trường nước biển vượt tải 139% gây ô nhiễm môi trường nước biển khu vực các bãi tắm và ảnh hưởng đến sự trải nghiệm của khách du lịch.

– Về mặt lý thuyết, khu du lịch Sầm Sơn có thể đón tối đa 32.000 lượt khách du lịch/ngày. Trong số 32.000 lượt khách/ngày, nếu xét các điều kiện vể khả năng phục hồi chất lượng nước biển, khả năng cấp nước, thu gom và xử lý chất thải tại Sầm Sơn thì chỉ có thể có tối đa 11.486 lượt khách du lịch lưu trú/ngày.

So với số lượt khách lưu trú năm 2019 của Sầm Sơn: 26.712 lượt khách du lịch lưu trú/ngày, SCTMT hiện tại của Sầm Sơn chỉ đáp ứng được 43%.

Tuy nhiên, SCTMT tại Sầm Sơn có thể tăng lên rất nhiều nhằm khai thác hiệu quả hoạt động du lịch tại Sầm Sơn nhưng vẫn đáp ứng được sức chịu tải về không gian tài nguyên bãi biển, nếu hệ thống thu gom, xử lý chất thải (đặc biệt hệ thống xử lý CTR) và hệ thống cấp nước được đầu tư, nâng cao công suất.

Hiện nay, thành phố Sầm Sơn triển khai và hoàn thiện một số dự án hạ tầng xử lý chất thải đưa vào vận hành trong năm 2021, như vậy SCTMT tại khu du lịch Sầm Sơn sẽ được tăng lên góp phần khai thác du lịch hiệu quả và bền vững.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kết quả đánh giá cho thấy, vào mùa cao điểm, sức chịu tải môi trường tại khu du lịch Sầm Sơn đã bị vượt tải. Bên cạnh không gian bãi biển không đủ phục vụ khách du lịch, nguyên nhân chủ yếu gây vượt tải là do hệ thống thu gom và xử lý chất thải chưa đáp ứng được lượng thải ra hàng ngày.

Để nâng cao khả năng chịu tải và khai thác hiệu quả tài nguyên bãi biển tại Sầm Sơn, báo cáo khuyến nghị một số nội dung sau:Tổ chức phân luồng khách du lịch nhằm giảm tải cho không gian bãi biển vào dịp cao điểm.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra kinh doanh du lịch và bảo vệ môi trường, tổ chức quản lý theo hình thức tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở dịch vụ du lịch nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ và vệ sinh môi trường.Đầu tư xây dựng, hoàn thiện hạ tầng xử lý môi trường nhằm nâng cao công suất xử lý để đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Sầm Sơn.

Đối với hạ tầng xử lý nước thải cần tách riêng hệ thống thu gom nước thải ra khỏi hệ thống nước mưa để tránh gây tràn các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt ra biển. Đối với hạ tầng xử lý chất thải rắn cần được ưu tiên đầu tư và sớm xây dựng đưa vào vận hành nhà máy xử lý rác thải tại xã phía Tây xã Quảng Minh để đảm bảo toàn bộ rác thải tại Sầm Sơn và khu vực lần cận được xử lý.

Bên cạnh đó cần thực hiện tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường đối với người dân và khách du lịch như phân loại chất thải rắn tại nguồn, sử dụng tiết kiệm nước, hạn chế sử dụng túi ni lông và sản phẩm nhựa dùng 1 lần… nhằm giữ gìn vệ sinh môi trường khu du lịch đồng thời giảm tải cho các hệ thống thu gom và xử lý chất thải.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa, Báo cáo số liệu quan trắc môi trường khu vực Sầm Sơn giai đoạn 2016 – 2020.

2. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa, Báo cáo hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Thanh hóa giai đoạn 2015 – 2020.

3. Ủy ban nhân dân thành phố Sầm Sơn (2018), Điều chỉnh quy hoạch chung đô thị Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050

4. Ủy ban nhân dân thành phố Sầm Sơn (2020), Bao cáo thực trạng phát triển du lịch, môi trường, và cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thành phố Sầm Sơn.

5. Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2018), “Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.

6. Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam (2016), Sức tải môi trường các thủy vực tiêu biểu ven bờ Việt Nam

7. Fred Lawson và Manuel Baud-Bovy (1977 và 1998), Tourism and recreation development.

8. GESAM, (1996), Monitoring the ecological effects of coastal aquaculture wastes. GESAM reports and studies.

9. World Heath Organization, Gevera, (1993), Assessment of sources of Air, Water, and Land pollution

Bài liên quan
Các địa điểm được du khách Việt yêu thích nhất cho mùa lễ hội năm 2022
Các địa điểm được du khách Việt yêu thích nhất cho mùa lễ hội năm 2022
07/12/2022 Thống kê

Năm 2022 đánh dấu sự trở lại đầy hứa hẹn của những chuyến chu du dành cho những trái tim ưa xê dịch và đã sẵn sàng bước ra ngoài thế giới, tận hưởng tất cả những điều tuyệt vời nhất của mùa lễ hội năm nay.

'Luồng xanh' cho du lịch cất cánh: 'Covid-19 buộc tất cả phải chọn chuyển đổi số hay không tồn tại'
'Luồng xanh' cho du lịch cất cánh: 'Covid-19 buộc tất cả phải chọn chuyển đổi số hay không tồn tại'
18/05/2022 Phân tích

Tại diễn đàn “Luồng xanh” cho du lịch cất cánh – Chuyên đề II: Chuyển đổi số: Động lực phát triển bền vững", ông Hoàng Quang Phòng cho rằng Covid-19 làm cho ngành du lịch trải qua những ngày đau đớn và chính cơn "sóng thần" này đẩy tất cả buộc phải lựa chọn: chuyển đổi số hay là không tồn tại nữa”?

Ứng dụng công nghệ số trong phát triển du lịch Hà Nội
Ứng dụng công nghệ số trong phát triển du lịch Hà Nội
06/05/2022 Nghiên cứu

Trước ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, chuyển đổi số được các công ty du lịch triển khai mạnh mẽ hơn.

Tiềm năng du lịch to lớn và lời kêu gọi doanh nghiệp đến Kon Tum để viết lên thành công
Tiềm năng du lịch to lớn và lời kêu gọi doanh nghiệp đến Kon Tum để viết lên thành công
25/04/2022 Nghiên cứu

Theo Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Nguyễn Văn Hùng, du lịch Kon Tum trên bản đồ Việt Nam vẫn đang là tờ giấy trắng và các doanh nghiệp hãy đến với Kon Tum để viết lên thành công của chính mình.

Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch hậu Covid-19
Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch hậu Covid-19
03/04/2022 Thống kê

Trong khuôn khổ VITM Hà Nội 2022, Hiệp hội Du lịch Việt Nam đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo Khôi phục và phát triển nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh bình thường mới.

Năm định hướng phục hồi du lịch và những vấn đề cần phải giải quyết
Năm định hướng phục hồi du lịch và những vấn đề cần phải giải quyết
01/04/2022 Nghiên cứu

Tại Diễn đàn "Phục hồi Du lịch Việt Nam, định hướng mới, hành động mới", bên cạnh 5 định hướng do Tổng cục trưởng Nguyễn Trùng Khánh đưa ra, các đại biểu cũng đã thảo luận về những vấn đề cấp bách để du lịch nhanh chóng phục hồi và phát triển.

Những vấn đề du lịch Việt Nam phải đối diện khi mở cửa
Những vấn đề du lịch Việt Nam phải đối diện khi mở cửa
23/03/2022 Nghiên cứu

Tại buổi thảo luận với chủ đề "Việt Nam - Trải nghiệm trọn vẹn", các vấn đề về nguồn nhân lực, việc làm mới các sản phẩm du lịch cũng như bảo đảm an toàn cho du khách... đã được đem ra thảo luận, phân tích.

Đề nghị 5 điểm nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch
Đề nghị 5 điểm nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch
22/03/2022 Phân tích

Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Đạo Cương cho hay Bộ chính thức phát động mở lại các hoạt động du lịch trên phạm vi cả nước và đề nghị 5 điểm đối vơi scác địa phương, các điểm đến, các doanh nghiệp nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch, đẩy nhanh tốc độ phục hồi du lịch trong điều kiện bình thường mới.

Mở cửa toàn diện du lịch: 'Trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch'
Mở cửa toàn diện du lịch: 'Trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch'
19/02/2022 Phân tích

Đề cập tới quyết định mở cửa toàn diện du lịch của Chính phủ, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam Vũ Thế Bình cho rằng "trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch, phải chứng minh chính sách mở cửa là đúng đắn".

Giải pháp nào cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam?
Giải pháp nào cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam?
19/01/2022 Nghiên cứu

Chuyển đổi số hoạt động du lịch theo hướng cung cấp đầy đủ thông tin và trải nghiệm trực tuyến cho khách du lịch trước khi thực hiện chuyến đi và trong khi thực hiện chuyến đi theo thời gian thực.

Cơ hội, thách thức cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam
Cơ hội, thách thức cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam
19/01/2022 Phân tích

Theo ông Nguyễn Huy Dũng, bên cạnh những cơ hội thì tư duy, nhận thức đối với xu hướng phát triển tất yếu của du lịch thông minh, chuyển đổi số du lịch chưa cao là một trong những thách thức...

Ngành tài chính đã hỗ trợ du lịch vượt khó như thế nào?
Ngành tài chính đã hỗ trợ du lịch vượt khó như thế nào?
18/01/2022 Nghiên cứu

Bên cạnh những giải pháp về thuế, phí và lệ phí, ngành tài chính còn áp dụng giải pháp về chi ngân sách nhà nước và một số giải pháp khác nhằm hỗ trợ du lịch vượt khó do Covid-19.

Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam
Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam
17/01/2022 Nghiên cứu

Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam dự kiến chia 2 giai đoạn kèm theo các nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên cụ thể: mở lại du lịch nội địa và du lịch quốc tế; phục hồi và phát triển đạt mức trước dịch.

5 đề xuất lớn để du lịch Đà Nẵng sớm phục hồi trong bối cảnh mới
5 đề xuất lớn để du lịch Đà Nẵng sớm phục hồi trong bối cảnh mới
16/01/2022 Nghiên cứu

Theo ông Lê Trung Chinh, để tạo điều kiện thuận lợi giúp du lịch Đà Nẵng nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung sớm phục hồi và phát triển trong bối cảnh mới, thành phố này có đề xuất một số nội dung giải pháp, chính sách thu hút đầu tư, phát triển du lịch.

Du lịch Đà Nẵng và những biện pháp để phục hồi trước ảnh hưởng do Covid-19
Du lịch Đà Nẵng và những biện pháp để phục hồi trước ảnh hưởng do Covid-19
16/01/2022 Nghiên cứu

Với việc chuẩn bị để có tên trong 5 điểm đến thí điểm đầu tiên trong việc đón khách du lịch quốc tế, Đà Nẵng đã thể hiện mong muốn mạnh mẽ từng bước khôi phục hoạt động du lịch trong nước và quốc tế

Những chính sách đã từng giúp du lịch Đà Nẵng có bước phát triển đột phá
Những chính sách đã từng giúp du lịch Đà Nẵng có bước phát triển đột phá
16/01/2022 Nghiên cứu

Theo vị Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng, một số chính sách đã giúp cho du lịch Đà Nẵng phát triển đột phá trong việc hình thành sản phẩm du lịch đặc sắc, cũng như tăng trưởng vượt bậc về số lượng khách du lịch và tổng thu du lịch so với giai đoạn trước đây.

Du lịch Ninh Bình: Phát triển thương hiệu gắn với di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư
Du lịch Ninh Bình: Phát triển thương hiệu gắn với di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư
14/01/2022 Nghiên cứu

Theo Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, trong thời gian tới, tỉnh Ninh Bình sẽ định vị, phát triển thương hiệu du lịch gắn với hình ảnh, giá trị Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An, di tích lịch sử - văn hóa Cố đô Hoa Lư, hướng tới ngành du lịch xanh, bền vững.

Những kinh nghiệm phát triển của du lịch Ninh Bình
Những kinh nghiệm phát triển của du lịch Ninh Bình
14/01/2022 Nghiên cứu

Trong những năm qua, du lịch Ninh Bình có nhiều khởi sắc. Tỉnh đã chuyển đổi các khu vực núi non, canh tác nông nghiệp khó khăn thành các khu vực phát triển du lịch, dần hình thành các điểm đến du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước.

Hoàn thuế cho du khách quốc tế mua hàng tại Việt Nam như thế nào?
Hoàn thuế cho du khách quốc tế mua hàng tại Việt Nam như thế nào?
13/01/2022 Nghiên cứu

Theo chuyên gia tư vấn thuế, việc hoàn thuế GTGT cho khách du lịch quốc tế mua hàng hóa tại Việt Nam, mang về nước khi xuất cảnh được thực hiện theo một số hình thức khác nhau, nhưng được phân theo 3 nhóm.