Thứ sáu, 01/01/2021, 08:41 AM
  • Click để copy

Phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam (P.1)

Tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, du lịch cộng đồng (DLCĐ) ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm từ phía khách du lịch, chính quyền địa phương, người dân cũng như các bên liên quan khác. DLCĐ đã và đang được biết đến như những quan điểm, giải pháp, nguyên tắc phát triển du lịch bền vững.

Lời giới thiệuVới mục tiêu hướng đến sự phát triển bền vững, du lịch cộng đồng (DLCĐ) được xem là một trong những công cụ hữu hiệu góp phần cải thiện sinh kế cho người dân địa phương, đồng thời giúp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa bản địa cũng như nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên gắn với cộng đồng điểm đến. Vì thế, DLCĐ là loại hình du lịch được quan tâm đầu tư phát triển tại nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn của Việt Nam.

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam" của PGS.TS. Phạm Hồng Long - Trưởng Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN.

Bài viết nhằm mục đích tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn về DLCĐ, phân tích những thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển DLCĐ ở Việt Nam, từ đó đưa ra một số gợi ý thiết thực nhằm phát triển DLCĐ ở Việt Nam trong thời gian tới.

Khách du lịch trải nghiệm đánh bắt cá bằng nơm theo cách truyền thống tại Khu du lịch làng quê Yên Đức (Đông Triều, Quảng Ninh).

Khách du lịch trải nghiệm đánh bắt cá bằng nơm theo cách truyền thống tại Khu du lịch làng quê Yên Đức (Đông Triều, Quảng Ninh).

1. Đặt vấn đề

Ngày nay phát triển cộng đồng trở thành tâm điểm của việc phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam và được đẩy mạnh trong nhiều lĩnh vực. Đối với lĩnh vực du lịch, theo Nicholls [1] các khía cạnh của phát triển DLCĐ bao gồm môi trường, kinh tế, văn hóa xã hội, quản lý và quy hoạch. Và như vậy, DLCĐ là một loại hình hướng đến sự phát triển bền vững.

Phát triển DLCĐ là một tiến trình kinh tế và xã hội dựa trên sự tham gia chủ động của cộng đồng địa phương (CĐĐP), một mặt giúp phát huy lợi thế các nguồn lực phát triển du lịch tại nơi hoặc gần nơi cộng đồng sinh sống nhằm đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, chất lượng cao và hợp lý của du khách; mặt khác, phát triển DLCĐ còn bao hàm cả góc độ cầu du lịch nhằm xây dựng, thực thi các chính sách cũng như tạo ra các sản phẩm du lịch nhằm xã hội hóa cầu du lịch để cộng đồng dân cư, đặc biệt là những người nghèo có thể đi du lịch và hưởng thụ các sản phẩm du lịch ngày càng nhiều, tạo ra sự công bằng xã hội và tạo thị trường cho phát triển loại hình du lịch này [2].

DLCĐ được biết đến như một công cụ giúp xóa đói giảm nghèo và chia sẻ thịnh vượng giữa các địa phương, các vùng miền nhờ quá trình tạo sinh kế hoặc chuyển đổi sinh kế của người dân từ hoạt động nông, lâm, thủ công nghiệp sang dịch vụ du lịch. Thông qua đó, DLCĐ cũng góp phần làm giảm tình trạng dễ bị tổn thương của những nhóm cộng đồng yếu thế và làm tăng tính bền vững trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên du lịch (TNDL) tự nhiên và văn hóa.

Mặc dù nhìn thấy được những lợi ích tích cực của DLCĐ trong phát triển kinh tế - xã hội nhưng việc khai thác, phát triển DLCĐ tại Việt Nam vẫn còn gặp phải những khó khăn đáng kể.

2. Một số vấn đề lý luận

2.1. DLCĐ là gì?

Khái niệm DLCĐ được Murphy đề cập, nghiên cứu từ năm 1985 và cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến việc khai thác, phát triển loại hình du lịch này. Tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, DLCĐ ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm từ phía khách du lịch, chính quyền địa phương, người dân cũng như các bên liên quan khác. DLCĐ đã và đang được biết đến như những quan điểm, giải pháp, nguyên tắc phát triển du lịch bền vững [1].

Theo Qũy Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (WWF) [3] DLCĐ là loại hình du lịch mà ở đó người dân địa phương có sự kiểm soát và tham gia chủ yếu vào sự phát triển và quản lý các hoạt động du lịch và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch sẽ được giữ lại cho người dân địa phương. Theo Đoàn Mạnh Cương [4], mô hình DLCĐ tạo điều kiện cho du khách trải nghiệm cuộc sống của người dân bản địa với những sinh hoạt rất đời thường và những món ăn dân dã đậm chất địa phương. Mô hình du lịch này cũng góp phần thúc đẩy các chiến lược xóa đói giảm nghèo, tạo ra sinh kế đồng thời khuyến khích vai trò của người dân bản địa trong việc hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng và bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống văn hóa cũng như các di sản thiên nhiên tại địa phương.

Luật Du lịch [5] đã được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2007, tại mục 15, điều 3, chương một đã đưa ra định nghĩa rõ về DLCĐ với tinh thần thừa nhận vai trò quan trọng của cộng đồng địa phương. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, tạo nền móng, hành lang pháp lý cho việc quy hoạch, phát triển hoạt động du lịch nói chung, DLCĐ nói riêng. Khoản 15 Điều 3 Luật Du lịch 2017 ghi rõ: DLCĐ là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi.

Cũng tại mục này, hai khái niệm căn bản khác được giải thích bao gồm: DLCĐ là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi; Du lịch văn hóa là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại.

Tại Điều 6 của khoản này ghi rõ: Cộng đồng dân cư có quyền tham gia và hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạt động du lịch; có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch, bản sắc văn hóa địa phương; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường. Cộng đồng dân cư được tạo điều kiện để đầu tư phát triển du lịch, khôi phục và phát huy các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian, ngành, nghề thủ công truyền thống, sản xuất hàng hóa của địa phương phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương.

Nhìn chung, DLCĐ có thể hiểu là loại hình du lịch có sự tham gia trực tiếp của cộng đồng địa phương trong việc hoạch định, xây dựng, triển khai và quản lý các hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng và bảo tồn, khai thác tài nguyên du lịch bền vững, đồng thời cộng đồng phải được hưởng phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch.

2.2. Mục tiêu của phát triển DLCĐ

Mục tiêu của phát triển DLCĐ nhằm cải thiện thu nhập cho cộng đồng địa phương, nâng cao trình độ dân trí cho cộng đồng, nâng cao ý thức bảo vệ TNDL tự nhiên, TNDL văn hóa, đảm bảo trao quyền cho cộng đồng trong phát triển du lịch và giúp cộng đồng kết nối với các cá nhân và cộng đồng khác.

Thứ nhất, về cải thiện thu nhập cho cộng đồng địa phương: DLCĐ được xem là một công cụ hiệu quả góp phần tạo thêm công ăn việc làm, cải thiện chất lượng việc làm cho người dân địa phương bao gồm mức lương, điều kiện dịch vụ, đặc biệt không phân biệt đối xử theo giới tính, chủng tộc và tình trạng sức khỏe, từ đó giúp nâng cao thu nhập cho người dân và tạo sự công bằng xã hội.

Nhờ DLCĐ người dân không chỉ có thêm thu nhập thông qua việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ du lịch mặt khác một phần thu nhập từ du khách còn được giữ lại để tạo quỹ phát triển cộng đồng, cải thiện cơ sở hạ tầng, hỗ trợ trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch góp phần thay đổi diện mạo địa phương theo hướng tích cực.

Thứ hai, về nâng cao trình độ dân trí của cộng đồng: Khuyến khích cộng đồng cùng tham gia, thảo luận, làm việc và giải quyết các vấn đề cộng đồng trong quá trình phát triển du lịch đồng thời tạo cơ hội cho CĐĐP trao đổi kiến thức, văn hóa với khách du lịch góp phần thúc đẩy tinh thần tự chủ, sáng tạo của người dân. Thêm vào đó, người dân có quyền tham gia vào việc lập kế hoạch, ra quyết định về việc quản lý và phát triển hoạt động du lịch trong khu vực của họ, tham vấn cho các bên liên quan; dần dần CĐĐP tự ý thức được vai trò và trách nhiệm của họ trong phát triển DLCĐ.

Thứ ba, về nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ TNDL tự nhiên và TNDL văn hóa: Phát triển DLCĐ nói riêng và hoạt động du lịch nói chung hướng đến mục tiêu phát triển bền vững luôn đòi hỏi ý thức về việc bảo tồn TNDL đối với tất cả các bên liên quan. TNDL tự nhiên và văn hóa bản địa là yếu tố hấp dẫn khách du lịch cho nên phát triển DLCĐ giúp người dân nâng cao ý thức trong việc bảo tồn, phát huy giá trị của TNDL địa phương.

Thứ tư, về đảm bảo trao quyền cho cộng đồng trong phát triển du lịch: Người dân địa phương hay cộng đồng địa phương được xem là đối tượng tham gia trực tiếp với vai trò chủ thể trong hoạt động phát triển DLCĐ bởi vì sản phẩm DLCĐ không chỉ là không gian môi trường nơi cộng đồng sở hữu, khai thác mà còn chính là cộng đồng địa phương với bản sắc văn hóa của họ. Phát triển DLCĐ cần tạo cơ hội cho cộng đồng tham gia nhiệt tình vào phát triển du lịch, cần đảm bảo cộng đồng tổ chức quản lý, được trao quyền làm chủ, thực hiện các dịch vụ và quản lý phát triển du lịch.

Thứ năm, giúp kết nối với các cá nhân và cộng đồng khác: Thông qua DLCĐ, khách du lịch ở nhiều địa phương đến với cộng đồng địa phương. Điều này giúp cho việc kết nối mối quan hệ giữa con người với con người ở các quốc gia, vùng miền khác nhau. Sự tương tác này sẽ giúp cho các nền văn hóa có thể xích lại gần nhau và giúp cho sự tiến bộ và hòa bình giữa các cộng đồng, vùng miền, dân tộc, quốc gia.

2.3. Các thành phần chính tham gia vào DLCĐ

Hoạt động DLCĐ được vận hành bởi sự tham gia của nhiều tổ chức, trong đó cộng đồng địa phương đóng vai trò trung tâm. Như đã chỉ ra trong các định nghĩa ở trên, trong DLCĐ, cộng đồng địa phương tham gia vào hầu hết mọi mắt xích. Sự tham gia của họ được đặt trong mối liên hệ với nhiều bên liên quan. Theo Goodwin & Rosa Santilli, 2009 [6] các thành phần chính này bao gồm:

Cộng đồng địa phương: Trực tiếp là các hộ dân sống trong khu vực triển khai hoạt động DLCĐ, những người cam kết tham gia vào hoạt động này. Họ vừa là người sở hữu, vận hành, quản lý và thụ hưởng phần lợi ích quan trọng thu được từ hoạt động DLCĐ. Tuy nhiên, không phải thành viên nào trong cộng đồng cũng được hưởng lợi giống nhau. Điều này phụ thuộc vào mức độ đóng góp, năng lực và nguồn lực đầu tư của mỗi nhóm.

Doanh nghiệp, công ty du lịch: Vai trò của các tổ chức này là tiếp cận với thị trường, tìm hiểu và tìm kiếm khách hàng, tổ chức, cung cấp các dịch vụ làm cầu nối đưa du khách đến các điểm du lịch. Đây cũng thường là nhà đầu tư tài chính để thiết lập cơ sở hạ tầng du lịch tại nơi triển khai DLCĐ; cung ứng các đào tạo cần thiết cho cộng đồng địa phương. Sự tham gia của các tổ chức này thường ở ngay từ quá trình chuẩn bị và quy hoạch nhằm thiết kế và phát triển sản phẩm du lịch, đánh giá được nhu cầu thị trường.

Chính quyền địa phương: Đóng vai trò cung cấp hành lang pháp lý, các điều kiện pháp lý để hoạt động DLCĐ có thể diễn ra. Hoạt động DLCĐ luôn diễn ra trên một khu vực địa lý cụ thể. Chính vì thế, sự hỗ trợ của chính quyền địa phương là hết sức quan trọng. Đây không chỉ là cơ quan phê duyệt các dự án, kế hoạch phát triển DLCĐ mà còn là sự đảm bảo về mặt pháp lý cho sự vận hành của các hoạt động DLCĐ đó. Chính quyền địa phương đóng vai trò trung gian, giữa các doanh nghiệp, công ty du lịch với cộng đồng địa phương và có thể đưa ra phán quyết phân xử khi có tranh chấp. Đây cũng là nơi có thể cung cấp các nguồn lực bổ xung quan trọng cho việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động DLCĐ.

Các tổ chức phát triển: Đây có thể là các tổ chức phi chính phủ trong hoặc ngoài nước, có vai trò hỗ trợ về mặt nâng cao năng lực, kỹ năng làm du lịch cho cộng đồng và một phần nhỏ về mặt tài chính giúp cộng đồng có đủ năng lực để tham gia vào DLCĐ ở giai đoạn đầu.

Truyền thông: Trong bối cảnh hiện nay, vai trò của truyền thông là cực kỳ quan trọng trong việc quảng bá sản phẩm du lịch tới khách hàng. Đây cũng là kênh cung cấp những thông tin căn bản ban đầu cho thị trường để qua đó khách hàng có thể lựa chọn sản phẩm, điểm đến. Ở những điểm DLCĐ phát triển thành công, sự gắn kết giữa truyền thông với cộng đồng địa phương, doanh nghiệp du lịch, chính quyền là hết sức chặt chẽ.

Khách du lịch: Được trình bày ở cuối danh sách nhưng không có nghĩa đây là thành phần ít quan trọng nhất. Trái lại, họ đóng vai trò quyết định đến sự tăng trưởng, bền vững của hoạt động DLCĐ, định hướng xu thế, tính chất của các mô hình, sản phẩm du lịch.

Trong các yếu tố trên, vai trò của cộng đồng địa phương là hết sức quan trọng, đóng vai trò trung tâm, đánh giá sự thành công của hoạt động DLCĐ.

2.4. Vai trò của DLCĐ trong quá trình tạo và chuyển đổi sinh kế

DLCĐ vừa khai thác vừa tác động lên các nguồn lực sinh kế của cư dân địa phương. Một trong những tác động tích cực đáng kể của loại hình du lịch này là góp phần tạo ra sinh kế mới hoặc chuyển đổi từ sinh kế nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp sang dịch vụ du lịch và các hoạt động phi nông nghiệp. Theo Đinh Thị Hà Giang [7], hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ; đồng thời chịu tác động của những thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà các cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng. Do vậy, dựa trên khung sinh kế bền vững của DFID [8], bài viết chỉ ra vai trò của DLCĐ đối với 05 nguồn lực sinh kế trong quá trình chuyển đổi sinh kế của cộng đồng địa phương:

Nguồn lực con người: Theo Bùi Văn Tuấn [9], nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn sinh kế cho hộ gia đình bởi lẽ trong bất kỳ loại hình sản xuất nào, yếu tố con người luôn là sự quan tâm hàng đầu. Do đó, vốn con người là nguồn vốn quan trọng nhất quyết định đến sinh kế của mỗi hộ gia đình.DLCĐ khuyến khích người dân địa phương tham gia tập huấn chuyển đổi nghề nghiệp, tự tạo việc làm trong bối cảnh kinh tế - xã hội phù hợp với tình hình địa phương. Mặt khác, người dân còn có cơ hội tham gia các khóa đào tạo tại chỗ, huấn luyện kỹ năng, nghiệp vụ phục vụ khách du lịch. Đối với các điểm đến DLCĐ đón tiếp khách quốc tế thì những hộ gia đình tham gia du lịch còn được bồi dưỡng ngoại ngữ để nâng cao chất lượng dịch vụ trong quá trình phục vụ khách. Ngoài ra, đội ngũ cán bộ quản lý địa phương cũng được tập huấn chuyên môn, nâng cao năng lực quản lý nhằm đảm bảo phát triển du lịch hiệu quả.

Thông qua DLCĐ, các lớp dạy-học nghề truyền thống được tổ chức nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, khôi phục ngành nghề thủ công truyền thống đồng thời tạo ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ hấp dẫn du khách. Đặc biệt, DLCĐ giúp xây dựng sự tự tin và bình đẳng giới cho phụ nữ: giúp họ có việc làm, đóng góp thêm vào nguồn thu nhập của gia đình và khẳng định vai trò của mình trong hoạt động du lịch.

Tóm lại, việc khai thác DLCĐ không chỉ góp phần nâng cao kỹ năng, kiến thức cho người dân địa phương mà còn nâng cao sự tự tin và động lực tham gia vào hoạt động DLCĐ, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương.

Nguồn lực tự nhiên: Vốn tự nhiên có ý nghĩa rất quan trọng tới sinh kế, đặc biệt là sinh kế người nghèo. Bởi vì vốn tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người [7]. Điều kiện tự nhiên thế nào sẽ quyết định việc hình thành văn hóa dựa trên điều kiện tự như thế vậy. Trên cơ sở khai thác và tận dụng nguồn TNDL tự nhiên để phát triển DLCĐ, nguồn vốn tự nhiên của địa phương đã được làm nổi bật để thu hút khách du lịch dựa trên yếu tố khí hậu, cảnh quan, nguồn động thực vật … và thậm chí là hoạt động canh tác nông lâm nghiệp; nuôi trồng, khai thác thủy hải sản. TNDL tự nhiên càng nguyên bản, hoang sơ thì tính hấp dẫn du khách càng cao, càng tạo điểm nhấn cho sản phẩm DLCĐ của điểm đến.Bên cạnh đó, DLCĐ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức của cộng đồng địa phương bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn cảnh quan làng bản.

Nguồn lực xã hội: Nguồn lực xã hội là nguồn vốn có ảnh hưởng lớn đến khả năng thoát nghèo của hộ gia đình, quyết định đến việc lập kế hoạch, chiến lược phát triển của hộ nghèo [6]. Nguồn lực xã hội bao gồm phong tục tập quán, văn hóa địa phương, các thiết chế cộng đồng, tri thức bản địa, khả năng tiếp cận và cập nhật thông tin của người dân đối với sản xuất và đời sống. Thực tế, DLCĐ khai thác TNDL văn hóa để tạo thành các sản phẩm du lịch, qua đó giúp bảo tồn giá trị văn hóa bản địa. Nhờ DLCĐ mà tính cố kết trong cộng đồng càng chặt chẽ hơn, mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng cũng trở nên mật thiết hơn khi họ cùng tham gia vào hoạt động du lịch, hỗ trợ nhau chuyển đổi sinh kế. Mối liên hệ, tương tác giữa các hộ dân với chính quyền địa phương, với doanh nghiệp du lịch và các bên liên quan khác cũng nhờ đó mà được xây dựng và duy trì.

Thông qua DLCĐ, người dân có cơ hội tiếp cận với các nguồn thông tin đa chiều; biết liên kết website hay sử dụng các công cụ truyền thông để cung cấp thông tin cho các đơn vị gửi khách và khách du lịch khi tìm hiểu về điểm đến trên mạng.

Một vai trò lớn của DLCĐ nữa là góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương, giúp người dân chuyển đổi và phát triển sinh kế, thay đổi cuộc sống trong điều kiện mới.

Nguồn lực tài chính: Vốn tài chính là yếu tố trung gian cho sự trao đổi và có ý nghĩa quan trọng đối với việc sử dụng thành công các loại vốn khác [9]. Việc khai thác, phát triển DLCĐ nhận được sự quan tâm từ phía chính quyền địa phương, doanh nghiệp du lịch và các tổ chức phi chính phủ (NGOs) bởi mục tiêu giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân. Vì thế, các hộ gia đình dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ, vốn vay ưu đãi từ ngân hàng chính sách, quỹ tín dụng địa phương cũng như các tổ chức phi chính phủ (NGOs) cho đầu tư phát triển DLCĐ.

Việc đẩy mạnh xã hội hóa du lịch tại các địa phương có đủ điều kiện phát triển DLCĐ đồng thời tranh thủ sự trợ giúp của các tổ chức trong nước, quốc tế, kiều bào nước ngoài đóng góp, hỗ trợ dòng tộc xây dựng quê hương cũng góp phần tạo nên nguồn lực tài chính hỗ trợ cho cộng đồng phát triển dịch vụ du lịch.

Mặt khác thông qua DLCĐ, thu nhập của các hộ gia đình được cải thiện từ nguồn thu hoạt động du lịch.

Nguồn lực vật chất: Thông qua phát triển DLCĐ, cơ sở hạ tầng của địa phương được cải thiện rõ rệt: hệ thống điện, đường, trường, trạm, thông tin liên lạc được đầu tư, nâng cấp để phục vụ khách du lịch cũng như đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân. Đối với các hộ gia đình kinh doanh loại hình lưu trú tại gia (homestay) thì nhà cửa, đồ đạc trong gia đình được sửa sang, trang bị tiện nghi, an toàn vệ sinh đảm bảo đáp ứng nhu cầu tối thiểu của du khách như: phòng ngủ, bếp nấu, nhà tắm, nhà vệ sinh, … Điều này cho thấy mức sống của người dân dần được cải thiện nhờ DLCĐ nói riêng và hoạt động du lịch nói chung.

Bên cạnh sự hỗ trợ về mặt tài chính, các hộ gia đình tham gia DLCĐ có thể nhận được sự hỗ trợ bằng hiện vật cụ thể như đồ dùng, vật dụng hay phương tiện sản xuất phục vụ sinh kế ví dụ khung dệt, dụng cụ đan lát, dụng cụ chế biến ẩm thực truyền thống, vật dụng trang trí nhà cửa để cung cấp dịch vụ lưu trú tại gia,…

2.5. Nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch

2.5.1. Nhân tố thúc đẩy cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch

Sự tham gia của cộng đồng hầu như không diễn ra trong môi trường “chân không” mà cần có động cơ thúc đẩy cũng như các yếu tố xúc tác thúc đẩy cộng đồng tham gia vào phát triển du lịch. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, yếu tố quan trọng thúc đẩy cộng đồng tham gia hoạt động du lịch đó là những lợi ích về kinh tế. Phát triển du lịch giúp tạo ra khối lượng việc làm đa dạng phù hợp từng nhóm đối tượng trong cộng đồng. Cộng đồng có thể tham gia các cơ hội việc làm như điều hành các doanh nghiệp nhỏ để phát triển các sản phẩm du lịch và dịch vụ, nghệ thuật, đồ thủ công và các giá trị văn hóa đặc biệt tại địa phương. Với việc khai thác tài sản thiên nhiên và văn hóa phong phú có sẵn trong cộng đồng, họ có thể là người hướng dẫn tham quan, tổ chức các dịch vụ phục vụ khách. Du lịch phát triển kéo theo các ngành liên quan phát triển tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho cư dân địa phương cải thiện cuộc sống. Bên cạnh việc nâng cao thu nhập, cộng đồng địa phương còn được hưởng lợi từ việc phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch như giao thông, điện, nước, viễn thông…góp phần thay đổi diện mạo địa phương theo hướng tích cực.

Du khách nghỉ dưỡng tại xã Mai Hịch, Mai Châu, Hoà Bình. (Ảnh: Báo Du lịch).Bên cạnh những lợi ích kinh tế mà cộng đồng có được từ hoạt động du lịch, điều kiện cơ chế chính sách cũng là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng. Nếu Nhà nước có chủ trương chính sách thuận lợi cho đầu tư phát triển du lịch, hỗ trợ địa phương vay vốn, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, miễn giảm thuế phí, hỗ trợ đào tạo về du lịch cũng như chuyển đổi ngành nghề…thì sẽ nhận được sự tham gia tích cực từ phía cộng đồng. Sự ủng hộ của chính quyền địa phương cũng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự hưởng ứng của cộng đồng. Sự ủng hộ của chính quyền địa phương thể hiện ở việc tạo điều kiện cho khách đến tham quan, khuyến khích, hỗ trợ người dân làm du lịch. Tham gia định hướng, điều hành tổng thể hoạt động du lịch và tạo điều kiện an ninh an toàn cho du lịch phát triển

Ngoài ra sự hỗ trợ giúp đỡ từ các tổ chức phi chính phủ, các công ty lữ hành về nguồn khách, tài chính và kinh nghiệm phát triển du lịch cũng là những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch.

2.5.2. Rào cản ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch

Việc xác định những rào cản làm giảm sự tham gia của cộng đồng trong quá trình phát triển du lịch có ý nghĩa rất lớn. Những rào cản này có thể đến từ trình độ học vấn thấp, thiếu vốn, kỹ năng, kiến thức, thiếu minh bạch cũng như phân phối lợi ích không đồng đều, thiếu một khuôn khổ chính sách phù hợp để hỗ trợ việc phát triển tri thức cộng đồng. Tác giả Timothy, 1999 [10] và Woodley, 1993 [11] đánh giá những rào cản ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch phát triển du lịch bao gồm:

1.      Thiếu tầm nhìn tổng thể về phát triển du lịch trong cộng đồng địa phương;

2.      Thiếu sự quan tâm hoặc nhận thức hạn chế về du lịch trên một bộ phận người dân địa phương;

3.      Quyền sở hữu ngăn cản sự tham gia của cơ sở kinh doanh du lịch do cộng đồng làm chủ;

4.      Thiếu vốn đầu tư;

5.      Thiếu nguồn nhân lực du lịch;

6.      Rào cản văn hóa giữa cư dân địa phương và khách du lịch làm cho sự hài lòng bị giảm sút và khách không muốn đến địa phương;

7.      Thiếu sự hợp tác, trao đổi giữa các bên liên quan.

Tất cả những rào cản này được tác giả Tosun (2000) phân tích cụ thể trong bài viết “Rào cản ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong du lịch ở các nước đang phát triển”. Theo đó, Tosun chia những rào cản ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng thành 3 loại là: Rào cản điều hành, rào cản cấu trúc và rào cản văn hóa. Rào cản mang tính điều hành bao gồm: tập trung hành chính công của ngành du lịch, thiếu sự phối hợp, và thiếu thông tin. Rào cản mang tính cấu trúc bao gồm: thái độ của các chuyên gia, thiếu chuyên môn, sự thống trị (kiểm soát) từ bên ngoài, thiếu hệ thống pháp luật phù hợp, thiếu nguồn nhân lực, thiếu nguồn tài chính và chi phí duy trì sự tham gia. Rào cản mang tính văn hóa bao gồm sự hạn chế về năng lực của nhóm người nghèo, sự thờ ơ cũng như trình độ nhận thức thấp của cộng đồng địa phương. Các loại rào cản này được tác giả khái quát qua các biểu hiện sau:

Thứ nhất, việc tập trung hóa của các cơ quan hành chính du lịch chỉ nằm ở cấp trung ương ở hầu hết các nước đang phát triển gây khó khăn cho người dân trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ. Sự thiếu thông tin không chỉ làm tăng khoảng cách kiến thức giữa các cộng đồng địa phương và các nhà ra quyết định mà còn tăng tốc độ cô lập của cộng đồng địa phương trong quá trình phát triển du lịch.Thứ hai, thiếu sự phối hợp và gắn kết giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch khiến cho ngành du lịch phát triển manh mún. Thiếu sự phối hợp và hợp tác giữa các bên liên quan còn ảnh hưởng đến xấu đến chất lượng của các sản phẩm du lịch, dẫn đến làm hỏng cơ hội tiềm năng để cộng đồng tham gia phát triển du lịch.Thứ ba, thiếu kiến thức và kỹ thuật chuyên môn về du lịch.Thứ tư, thái độ của chuyên gia, nhà quản lý dẫn đến thiếu hệ thống chính sách phù hợp: vai trò của nhà quản lý trong việc định hình chính sách du lịch ở các nước đang phát triển là vấn đề quan trọng, một số nhà quản lý tập trung quá nhiều về chính trị. Vì thế họ chính trị hóa sự tham gia của cộng đồng trong quá trình phát triển du lịch và phát triển nó đi chệch hướng từ trên xuống theo cơ chế áp đặt.  Thứ năm, thiếu nguồn nhân lực du lịch từ cấp quản lý hành chính đến cơ sở và cộng đồng.Thứ sáu, thiếu nguồn lực tài chính và nguồn lực duy trì sự tham gia.Thứ bảy, nhận thức về du lịch trong cộng đồng địa phương còn thấp.

(còn nữa)

Bài liên quan
Các địa điểm được du khách Việt yêu thích nhất cho mùa lễ hội năm 2022
Các địa điểm được du khách Việt yêu thích nhất cho mùa lễ hội năm 2022
07/12/2022 Thống kê

Năm 2022 đánh dấu sự trở lại đầy hứa hẹn của những chuyến chu du dành cho những trái tim ưa xê dịch và đã sẵn sàng bước ra ngoài thế giới, tận hưởng tất cả những điều tuyệt vời nhất của mùa lễ hội năm nay.

'Luồng xanh' cho du lịch cất cánh: 'Covid-19 buộc tất cả phải chọn chuyển đổi số hay không tồn tại'
'Luồng xanh' cho du lịch cất cánh: 'Covid-19 buộc tất cả phải chọn chuyển đổi số hay không tồn tại'
18/05/2022 Phân tích

Tại diễn đàn “Luồng xanh” cho du lịch cất cánh – Chuyên đề II: Chuyển đổi số: Động lực phát triển bền vững", ông Hoàng Quang Phòng cho rằng Covid-19 làm cho ngành du lịch trải qua những ngày đau đớn và chính cơn "sóng thần" này đẩy tất cả buộc phải lựa chọn: chuyển đổi số hay là không tồn tại nữa”?

Ứng dụng công nghệ số trong phát triển du lịch Hà Nội
Ứng dụng công nghệ số trong phát triển du lịch Hà Nội
06/05/2022 Nghiên cứu

Trước ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19, chuyển đổi số được các công ty du lịch triển khai mạnh mẽ hơn.

Tiềm năng du lịch to lớn và lời kêu gọi doanh nghiệp đến Kon Tum để viết lên thành công
Tiềm năng du lịch to lớn và lời kêu gọi doanh nghiệp đến Kon Tum để viết lên thành công
25/04/2022 Nghiên cứu

Theo Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Nguyễn Văn Hùng, du lịch Kon Tum trên bản đồ Việt Nam vẫn đang là tờ giấy trắng và các doanh nghiệp hãy đến với Kon Tum để viết lên thành công của chính mình.

Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch hậu Covid-19
Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch hậu Covid-19
03/04/2022 Thống kê

Trong khuôn khổ VITM Hà Nội 2022, Hiệp hội Du lịch Việt Nam đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức hội thảo Khôi phục và phát triển nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh bình thường mới.

Năm định hướng phục hồi du lịch và những vấn đề cần phải giải quyết
Năm định hướng phục hồi du lịch và những vấn đề cần phải giải quyết
01/04/2022 Nghiên cứu

Tại Diễn đàn "Phục hồi Du lịch Việt Nam, định hướng mới, hành động mới", bên cạnh 5 định hướng do Tổng cục trưởng Nguyễn Trùng Khánh đưa ra, các đại biểu cũng đã thảo luận về những vấn đề cấp bách để du lịch nhanh chóng phục hồi và phát triển.

Những vấn đề du lịch Việt Nam phải đối diện khi mở cửa
Những vấn đề du lịch Việt Nam phải đối diện khi mở cửa
23/03/2022 Nghiên cứu

Tại buổi thảo luận với chủ đề "Việt Nam - Trải nghiệm trọn vẹn", các vấn đề về nguồn nhân lực, việc làm mới các sản phẩm du lịch cũng như bảo đảm an toàn cho du khách... đã được đem ra thảo luận, phân tích.

Đề nghị 5 điểm nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch
Đề nghị 5 điểm nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch
22/03/2022 Phân tích

Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Đạo Cương cho hay Bộ chính thức phát động mở lại các hoạt động du lịch trên phạm vi cả nước và đề nghị 5 điểm đối vơi scác địa phương, các điểm đến, các doanh nghiệp nhằm nhanh chóng mở lại hoạt động du lịch, đẩy nhanh tốc độ phục hồi du lịch trong điều kiện bình thường mới.

Mở cửa toàn diện du lịch: 'Trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch'
Mở cửa toàn diện du lịch: 'Trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch'
19/02/2022 Phân tích

Đề cập tới quyết định mở cửa toàn diện du lịch của Chính phủ, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Du lịch Việt Nam Vũ Thế Bình cho rằng "trách nhiệm đang đặt lên vai các doanh nghiệp du lịch, phải chứng minh chính sách mở cửa là đúng đắn".

Giải pháp nào cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam?
Giải pháp nào cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam?
19/01/2022 Nghiên cứu

Chuyển đổi số hoạt động du lịch theo hướng cung cấp đầy đủ thông tin và trải nghiệm trực tuyến cho khách du lịch trước khi thực hiện chuyến đi và trong khi thực hiện chuyến đi theo thời gian thực.

Cơ hội, thách thức cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam
Cơ hội, thách thức cho chuyển đổi số du lịch Việt Nam
19/01/2022 Phân tích

Theo ông Nguyễn Huy Dũng, bên cạnh những cơ hội thì tư duy, nhận thức đối với xu hướng phát triển tất yếu của du lịch thông minh, chuyển đổi số du lịch chưa cao là một trong những thách thức...

Ngành tài chính đã hỗ trợ du lịch vượt khó như thế nào?
Ngành tài chính đã hỗ trợ du lịch vượt khó như thế nào?
18/01/2022 Nghiên cứu

Bên cạnh những giải pháp về thuế, phí và lệ phí, ngành tài chính còn áp dụng giải pháp về chi ngân sách nhà nước và một số giải pháp khác nhằm hỗ trợ du lịch vượt khó do Covid-19.

Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam
Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam
17/01/2022 Nghiên cứu

Lộ trình phục hồi và phát triển du lịch Việt Nam dự kiến chia 2 giai đoạn kèm theo các nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên cụ thể: mở lại du lịch nội địa và du lịch quốc tế; phục hồi và phát triển đạt mức trước dịch.

5 đề xuất lớn để du lịch Đà Nẵng sớm phục hồi trong bối cảnh mới
5 đề xuất lớn để du lịch Đà Nẵng sớm phục hồi trong bối cảnh mới
16/01/2022 Nghiên cứu

Theo ông Lê Trung Chinh, để tạo điều kiện thuận lợi giúp du lịch Đà Nẵng nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung sớm phục hồi và phát triển trong bối cảnh mới, thành phố này có đề xuất một số nội dung giải pháp, chính sách thu hút đầu tư, phát triển du lịch.

Du lịch Đà Nẵng và những biện pháp để phục hồi trước ảnh hưởng do Covid-19
Du lịch Đà Nẵng và những biện pháp để phục hồi trước ảnh hưởng do Covid-19
16/01/2022 Nghiên cứu

Với việc chuẩn bị để có tên trong 5 điểm đến thí điểm đầu tiên trong việc đón khách du lịch quốc tế, Đà Nẵng đã thể hiện mong muốn mạnh mẽ từng bước khôi phục hoạt động du lịch trong nước và quốc tế

Những chính sách đã từng giúp du lịch Đà Nẵng có bước phát triển đột phá
Những chính sách đã từng giúp du lịch Đà Nẵng có bước phát triển đột phá
16/01/2022 Nghiên cứu

Theo vị Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng, một số chính sách đã giúp cho du lịch Đà Nẵng phát triển đột phá trong việc hình thành sản phẩm du lịch đặc sắc, cũng như tăng trưởng vượt bậc về số lượng khách du lịch và tổng thu du lịch so với giai đoạn trước đây.

Du lịch Ninh Bình: Phát triển thương hiệu gắn với di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư
Du lịch Ninh Bình: Phát triển thương hiệu gắn với di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư
14/01/2022 Nghiên cứu

Theo Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, trong thời gian tới, tỉnh Ninh Bình sẽ định vị, phát triển thương hiệu du lịch gắn với hình ảnh, giá trị Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An, di tích lịch sử - văn hóa Cố đô Hoa Lư, hướng tới ngành du lịch xanh, bền vững.

Những kinh nghiệm phát triển của du lịch Ninh Bình
Những kinh nghiệm phát triển của du lịch Ninh Bình
14/01/2022 Nghiên cứu

Trong những năm qua, du lịch Ninh Bình có nhiều khởi sắc. Tỉnh đã chuyển đổi các khu vực núi non, canh tác nông nghiệp khó khăn thành các khu vực phát triển du lịch, dần hình thành các điểm đến du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước.

Hoàn thuế cho du khách quốc tế mua hàng tại Việt Nam như thế nào?
Hoàn thuế cho du khách quốc tế mua hàng tại Việt Nam như thế nào?
13/01/2022 Nghiên cứu

Theo chuyên gia tư vấn thuế, việc hoàn thuế GTGT cho khách du lịch quốc tế mua hàng hóa tại Việt Nam, mang về nước khi xuất cảnh được thực hiện theo một số hình thức khác nhau, nhưng được phân theo 3 nhóm.